Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢN BẠ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07 - 8 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung của nam, nữ

chung sống với nhau như vợ chồng

mà không đăng ký kết hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Đình Vĩ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lệnh Xuân Chính và bà Lục Thị Cương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Lan Hương - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Lỷ Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2023/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 12 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung của nam, nữ sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Thào Thị M, sinh năm 1986;
  • Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang. (Có mặt).
  • - Bị đơn: Anh Sùng Mí Q, sinh năm 1982;
  • Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án chị Thào Thị M trình bày: Chị và anh Sùng Mí Quả quen biết nhau từ năm 2004, được một thời gian thì tự nguyện về sống chung với nhau nhưng không tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương do hoàn cảnh gia đình khó khăn và chưa đi đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chị và anh Q chung sống hạnh phúc nhưng càng về sau anh Q thường xuyên say rượu và hay chửi bới, đánh đập chị. Gần đây nhất là ngày 17/10/2023 anh Q đánh chị đến mức phải nhập viện 05 ngày, chị đã nhờ Công an xã can thiệp và mời anh Q lên Công an xã làm việc nhưng anh Q không chấp hành mà sau đó ngày 20/11/2023 anh Q lại tiếp tục đánh đập chị và phá hỏng 01 chiếc xe mô tô cùng các tài sản khác trong nhà, chị đã trình báo Công an xã C, khi được triệu tập lên giải quyết nhưng anh Q không chấp hành mà vẫn tiếp tục hành hạ chị. Vì không chịu được tính cách của anh Q, chị có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sùng Mí Q.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh Q có 03 con chung là cháu Sùng Mí H, sinh ngày 26/02/2009, Sùng Thị X, sinh ngày 04/5/2014, Sùng Minh P, sinh ngày 09/8/2015. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Sùng Thị X. Anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Sùng Mí H và cháu Sùng Minh P.

Về tài sản chung: Trong đơn khởi kiện chị M yêu cầu chia tài sản chung gồm 01 ngôi nhà hai gian để lại cho chồng và con ở, có 03 con bò đề nghị chia theo thỏa thuận của vợ chồng, về đất nông nghiệp chị đề nghị được chia đôi sau này để lại cho 02 con trai. Trong giai đoạn giải quyết vụ án chị đã rút yêu cầu về tài sản chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Trong đơn khởi kiện chị M yêu cầu về nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Q 25.000.000 đồng để làm nhà. Khi ly hôn anh Q sử dụng nhà thì anh Q có trách nhiệm trả nợ. Trong giai đoạn giải quyết vụ án chị đã rút yêu cầu về công nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị M thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh Sùng Mí Q nhiều lần nhưng anh Q không có mặt. Tại phiên tòa anh Q trình bày: Anh và chị Thào Thị M quen nhau năm 2004, sau một thời gian tìm hiểu, được hai bên gia đình đồng ý nên đã về sống chung với nhau, do hoàn cảnh khó khăn nên chưa tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, anh và chị M chưa đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Chị M thường xuyên nhập hàng hóa để đi bán tại các chợ phiên của xã do hay đi sớm về muộn, anh Q nhiều lần nghi ngờ chị M có quan hệ bất chính với người khác nên khi uống rượu say mới hay quát, mắng và đánh chị M. Đến thời điểm này, chị M có đơn xin ly hôn với anh, anh Q đồng ý ly hôn với chị M.

- Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị M có 03 con chung là cháu Sùng Mí H, sinh ngày 26/02/2009, Sùng Thị X, sinh ngày 04/5/2014, Sùng Minh P, sinh ngày 09/8/2015. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 03 cháu Sùng Thị X, Sùng Mí H và cháu Sùng Minh P. Không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Số tiền nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Q anh đã bán bò để trả. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải Tòa án đã triệu tập anh Q theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Q không có mặt nên không tiến hành hòa giải con chung được.

Tại phiên tòa, do không có đăng ký kết hôn chị M đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Sùng Mí Q, anh Q nhất trí với đề nghị của chị M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ có ý kiến về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án: Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật đang tranh chấp, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và các nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72, 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án để phối hợp giải quyết vụ án và đưa ra quan điểm, ý kiến của mình.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP về thi hành Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thào Thị M và anh Sùng Mí Q.

Về con chung: Đề nghị áp dụng Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình: Giao cho chị Thào Mí M2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Sùng Thị X cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi của Tòa án. Anh Sùng Mí Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Sùng Mí H và cháu Sùng Minh P cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi của Tòa án. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Áp dụng Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự đề nghị đình chỉ xét xử phần tài sản chung, công nợ chung.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho chị Thào Thị M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Thào Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Sùng Mí Q đều có nơi cư trú tại thôn Đ, xã C, huyện Q, Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thào Thị M và anh Sùng Mí Q tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004, hai bên gia đình không tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương vì hoàn cảnh gia đình còn khó khăn và chị M, anh Q mặc dù có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh Q nghi ngờ chị M có quan hệ bất chính với người khác, thường xuyên say rượu đánh chị M, có lần đánh khiến chị M phải nhập viện điều trị. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị M yêu cầu cho chị được ly hôn với anh Sùng Mí Q.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy chị Thào Thị M và anh Sùng Mí Q chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004, đến nay anh chị có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Mặt khác, trong thời gian chung sống anh Q, chị M thường xuyên mâu thuẫn, đánh chửi nhau dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc. Nay chị M yêu cầu ly hôn với anh Q, căn cứ khoản 1 Điều 14, 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thào Thị M và anh Sùng Mí Q.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống, chị M và anh Q có 03 con chung là cháu Sùng Mí H, sinh ngày 26/02/2009, Sùng Thị X, sinh ngày 04/5/2014, Sùng Minh P, sinh ngày 09/8/2015. Anh Q hiện nay đang đi làm thuê với mức thu nhập từ 12 đến 13 triệu đồng một tháng, chị M đi bán hàng ở chợ có mức thu nhập khoảng 7 đến 8 triệu đồng. Để đảm bảo cuộc sống, học tập của các cháu được tốt nhất. Giao cho chị Thào Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Sùng Thị X, sinh ngày 04/5/2014 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Sùng Mí H, sinh ngày 26/02/2009 và cháu Sùng Minh P, sinh ngày 09/8/2015 cho đến khi cháu H, cháu P đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung: Trong đơn khởi kiện chị M yêu cầu chia tài sản chung gồm 01 ngôi nhà hai gian để lại cho chồng và con ở; 03 con bò đề nghị chia theo thỏa thuận của vợ chồng, về đất nông nghiệp chị đề nghị được chia đôi sau này để lại cho 02 con trai. Trong giai đoạn giải quyết vụ án chị đã rút yêu cầu về tài sản chung. Tại phiên tòa anh Q không có ý kiến gì về tài sản chung.

[6] Về công nợ chung: Trong đơn khởi kiện chị M yêu cầu về nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Q 25.000.000 đồng để làm nhà. Khi ly hôn anh Q sử dụng nhà thì anh Q có trách nhiệm trả nợ. Trong giai đoạn giải quyết vụ án chị đã rút yêu cầu về công nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên Tòa anh Q cho biết về khoản nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Q anh đã trả nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Hội đồng xét xử xét thấy về tài sản chung, công nợ chung chị M đã rút yêu cầu, anh Q không đề nghị xem xét, giải quyết. Căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự đình chỉ xét xử về phần tài sản chung, công nợ chung.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ án hôn nhân gia đình sơ thẩm cho chị Thào Thị M.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 244, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Thào Thị M. Tuyên bố không công nhận chị Thào Thị M và anh Sùng Mí Q là vợ chồng.
  2. Về con chung: Giao cho chị Thào Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Sùng Thị X, sinh ngày 04/5/2014 cho đến khi cháu X đủ 18 tuổi.

Giao cho anh Sùng Mí Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Sùng Mí H, sinh ngày 26/02/2009 và cháu Sùng Minh P, sinh ngày 09/8/2015 cho đến khi cháu H, cháu P đủ 18 tuổi.

Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được ngăn cản. Vì quyền lợi của con chung một hoặc hai bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo qui định của Luật Hôn nhân và gia đình.

  1. Về tài sản chung, công nợ chung: Đình chỉ xét xử phần tài sản chung, công nợ chung.
  2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho chị Thào Thị M.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Quản Bạ;
  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - UBND xã Cán Tỷ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Đình Vĩ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố không công nhận chị Thào Thị M và anh Sùng Mí Q là vợ chồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger