|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-PT Ngày: 07/3/2025 V/v Tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Cẩm Đào
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nguyên, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 tháng 02 và ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 44/2024/TLPT-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp xin ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 243/2024/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Huyền T, sinh năm 1996 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Trương Hoài N, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị N1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
- Ông Trương Hoàng T1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Ngân hàng C – Chi nhánh tỉnh C (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, đường L, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Chị Lê Huyền T (là nguyên đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của các bên đương sự và kết quả xét xử, vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N chung sống với nhau vào năm 2013, đăng ký kết hôn vào ngày 01/12/2016. Do cuộc sống chung giữa vợ xãy ra mâu thuẫn, không tìm được hạnh phúc nên chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N đã thuận tình ly hôn. Về con chung có 02 người tên là Trương Lộc P, sinh ngày 06/3/2017 và Trương Thiện P1, sinh ngày 19/8/2021. Con chung được chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N thỏa thuận là anh Trương Hoài N chịu trách nhiệm nuôi hai người con chung và không yêu cầu chị Lê Huyền T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về nợ, anh Trương Hoài N chịu trách nhiệm trả nợ vay của Ngân hàng C xã hội vốn vay và lãi suất tính đến ngày 03/7/2024 là 65.211.561 đồng. Riêng đối với khoản nợ hụi và nợ vay của bà Lê Thị N1 thì giữa chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N có ý kiến tranh chấp nhưng tại phiên tòa sơ thẩm bà Lê Thị N1 đã rút lại yêu cầu khởi kiện.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 243/2024/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:
- Hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N.
- Con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N về việc giao Trương Lộc Phát sinh ngày 06/3/2017 và Trương Thiện Phát sinh ngày 19/8/2021 cho anh Trương Hoài N trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị T với anh N không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con, chị T không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
- Nợ chung: Buộc anh Trương Hoài N có nghĩa vụ thanh toán cho Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh C số tiền tính đến ngày 03/7/2024 là 65.211.561 đồng, trong đó vốn 65.000.000 đồng, lãi 211.561 đồng. Anh Trương Hoài N có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất tại hợp đồng tín dụng số 7118568974/2022/HĐ-TD ngày 21/9/2022 đến khi tất toán nợ cho Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh C.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Lê Thị N1 về việc buộc anh Trương Hoài N và chị Lê Huyền T thanh toán số tiền 60.000.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30/9/2024, chị Lê Huyền T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận cho chị được trực tiếp nuôi một người con tên là Trương Thiện P1, sinh ngày 19/8/2021.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Lê Huyền T. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 243/2024/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của chị Lê Huyền T được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về quan hệ hôn nhân thì giữa chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và vợ chồng chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N tự nguyện thuận tình ly hôn. Con chung có hai người, chưa đủ tuổi thành niên và vợ chồng chị Lê Huyền T, anh Trương Hoài N đã tự thỏa thuận để cho anh Trương Hoài N chịu trách nhiệm nuôi hai người con chung, anh Trương Hoài N không yêu cầu chị Lê Huyền T phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với khoản nợ của bà Lê Thị N1 thì bà Lê Thị N1 đã rút lại yêu cầu; khoản nợ Ngân hàng Chính sách do anh Trương Hoài N tự nguyện trả nợ. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N; công nhận thỏa thuận về việc giao con chung cho anh Trương Hoài N nuôi dưỡng; đình chỉ yêu cầu của bà Lê Thị N1 và buộc anh Trương Hoài N trả nợ cho Ngân hàng chính sách là có căn cứ pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, tất cả các đương sự không kháng cáo, riêng đối với chị Lê Huyền T chỉ kháng cáo về việc nuôi con.
[3] Xét kháng cáo của chị Lê Huyền T, chị cho rằng ngay sau khi xét xử sơ thẩm thì anh Trương Hoài N không thực hiện được trách nhiệm nuôi con chu đáo, để con chung khóc đến ngất đi. Ngoài ra, anh Trương Hoài N nhắn tin thông báo cho chị không được gặp con và anh Trương Hoài N cũng không cho chị gặp con khi chị đến thăm con. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, do chị chưa có thu nhập ổn định nên chị đồng ý để anh Trương Hoài N nuôi hai người con, nhưng hiện tại chị đã khắc phục được điều kiện khó khăn và chị đã có thu nhập ổn định, có nơi ở và việc làm nên chị yêu cầu thay đổi để cho chị được nuôi một người con là Trương Thiện P1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Lê Huyền T vẫn giữ yêu cầu kháng cáo và chị cung cấp chứng cứ là đoạn video mà anh Trương Hoài N gửi cho chị cùng với các tin nhắn có nội dung không cho chị đến thăm con chung. Ngoài ra, chị Lê Huyền T còn cung cấp được các căn cứ để chứng minh về thu nhập; việc làm và nơi ở đảm bảo cho việc nuôi con chưa thành niên.
Xét qua quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm thì tại thời điểm này chị Lê Huyền T chưa có thu nhập ổn định, không có việc làm và nơi ở nên chị Lê Huyền T thống nhất giao hai người con chưa thành niên cho anh Trương Hoài N nuôi dưỡng và từ đó Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận sự thỏa thuận của chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N là phù hợp.
Tuy nhiên, ngay sau khi xét xử thì anh Trương Hoài N đã có hành vi nhắn tin thông báo không cho chị Lê Huyền T gặp và thăm con, các tin nhắn này anh Trương Hoài N thừa nhận là do anh nhắn, gửi cho chị Lê Huyền T. Chị Lê Huyền T khai là sau khi xét xử sơ thẩm, chị đã đến nhà anh Trương Hoài N để thăm con nhưng không gặp được con, tuy không có căn cứ để chứng minh việc anh Trương Hoài N không cho chị Lê Huyền T thăm con nhưng lời khai nhận của chị Lê Huyền T hoàn toàn phù hợp với nội dung tin nhắn mà anh Trương Hoài N đã gửi cho chị Lê Huyền T. Từ đó cho thấy, anh Trương Hoài N đã không thực hiện đúng trách nhiệm của người nuôi con chưa thành niên được quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Bên cạnh đó, tại thời điểm xét xử sơ thẩm chị Lê Huyền T không đủ điều kiện nuôi con nên đồng ý giao cả hai người con chung cho anh Trương Hoài N nuôi dưỡng. Hiện tại, theo các chứng cứ do chị Lê Huyền T cung cấp thì có căn cứ để công nhận và nội dung xác định được chị Lê Huyền T có nơi ở và việc làm ổn định do đã có sự đầu tư cơ sở kinh doanh, mua bán và có thu nhập mỗi tháng trên 10.000.000 đồng nên đủ điều kiện để nuôi con chưa thành niên. Ngoài ra, chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N có chung hai người con là Trương Lộc Phát sinh ngày 06/3/2017 và Trương Thiện Phát sinh ngày 19/8/2021 nên việc giao cho anh Trương Hoài N và chị Lê Huyền T mỗi người nuôi một người con là phù hợp.
[4] Do phát sinh tình tiết và chứng cứ mới sau khi xét xử sơ thẩm, có đủ căn cứ để chấp nhận kháng cáo của chị Lê Huyền T. Sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 243/2024/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau để giao một người con tên là Trương Thiện P1, sinh ngày 19/8/2021 cho chị Lê Huyền T nuôi dưỡng.
[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[6] Chị Lê Huyền T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố Tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 144, 147, 217, 218 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Huyền T và anh Trương Hoài N.
- - Về con chung: Giao cho anh Trương Hoài N chịu trách nhiệm nuôi dưỡng một người con chung tên là Trương Lộc Phát sinh ngày 06/3/2017; giao cho chị Lê Huyền T chịu trách nhiệm nuôi dưỡng một người con chung tên là Trương Thiện Phát sinh ngày 19/8/2021. Anh Trương Hoài N và chị Lê Huyền T không phải chịu trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.
- - Buộc anh Trương Hoài N giao lại một người con là Trương Thiện P1 cho chị Lê Huyền T nuôi dưỡng. Anh Trương Hoài N và chị Lê Huyền T có quyền thăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- - Tài sản chung không xem xét giải quyết.
- - Buộc anh Trương Hoài N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C – Chi nhánh tỉnh C số tiền vốn vay và lãi suất tính đến ngày 03/7/2024 là 65.211.561 đồng, trong đó vốn 65.000.000 đồng, lãi 211.561 đồng. Kể từ ngày 04/7/2024, anh Trương Hoài N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất tại hợp đồng tín dụng số 7118568974/2022/HĐ-TD ngày 21/9/2022 đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này cho Ngân hàng C – Chi nhánh tỉnh C.
- - Đình chỉ yêu cầu của bà Lê Thị N1 về việc buộc anh Trương Hoài N và chị Lê Huyền T thanh toán số tiền 60.000.000 đồng.
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Huyền T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Ngày 28/5/2024 chị Lê Huyền T đã dự nộp tiền tạm ứng án phí là 7.315.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008731 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nay được đối trừ, chị Lê Huyền T được nhận lại 7.015.000 đồng. Anh Trương Hoài N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.260.000 đồng. Ngày 24/6/2024 anh Trương Hoài N đã dự nộp tiền tạm ứng án phí là 525.000 đồng theo biên lai số 0008907 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nay được đối trừ, anh Trương Hoài N còn phải tiếp tục nộp 2.735.000 đồng. Bà Lê Thị N1 không phải chịu án phí và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí là 1.500.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0008908 ngày 24/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau.
- Chị Lê Huyền T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0009301 ngày 30/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Cà Mau.
Chấp nhận kháng cáo của chị Lê Huyền T. Sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 243/2024/HNGĐ-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Phương |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Lê Huyền T vẫn giữ yêu cầu kháng cáo và chị cung cấp chứng cứ là đoạn video mà anh Trương Hoài N gửi cho chị cùng với các tin nhắn có nội dung không cho chị đến thăm con chung. Ngoài ra, chị Lê Huyền T còn cung cấp được các căn cứ để chứng minh về thu nhập; việc làm và nơi ở đảm bảo cho việc nuôi con chưa thành niên.
