TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2023/HSST Ngày: 06/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quàng Ngọc Tiên.
2. Ông Lường Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Nghị - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông. Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sùng Giống C (tên gọi khác: không), sinh năm 1969 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản T, xã X, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mông. Giới tính: Nam. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Nông nghiệp. Trình độ văn hóa: không học. Con ông Sùng Nhìa B, sinh năm 1955 và bà Vừ Thị K, sinh năm 1955. Vợ là Lầu Thị Q, sinh năm 1967 và có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật gì. Bị tạm giữ từ ngày 06/7/2023 cho đến ngày 15/7/2023 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị D, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Văng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ sáng ngày 06/7/2023, do lên cơn nghiện ma túy nên bị cáo Sùng Giống C đã mang theo số tiền 380.000 đồng (ba trăm tám mươi nghìn đồng) một mình đi bộ từ nhà ở bản T, xã X, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đi xuống bản S, xã L, huyện M, tỉnh Điện Biên với mục đích đi tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực bản S, xã L, huyện M thì bị cáo C gặp một người đàn ông dân tộc Thái, bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này nhìn giống người nghiện ma túy, bị cáo hỏi người này “Có hồng phiến bán không, mua một ít?”, người đàn ông dân tộc Thái trả lời “Có”, thấy vậy bị cáo đưa 380.000₫ (ba trăm tám mươi nghìn đồng) cho người đàn ông này. Sau khi nhận được tiền người đàn ông đưa cho bị cáo 01 lọ nhựa màu trắng, có nắp màu vàng và nói bên trong có 17 viên hồng phiến. Bị cáo nhận và mở nắp lọ nhựa lấy 01 viên ra sử dụng bằng hình thức uống, sử dụng xong, bị cáo đậy nắp lọ lại và cất lọ nhựa có chứa ma túy vào túi áo ngực bên trái đang mặc đi bộ về nhà. Trên đường về đến lán nương của con trai bị cáo tên là Sùng Chờ P, do đau bụng nên bị cáo đã vào lán nghỉ ngơi, nghỉ được khoảng 10-15 phút thì bị cáo tiếp tục đi về, cách lán nương của Sùng Chờ P khoảng 10 mét thì bị cáo bị tổ công tác Công an xã X, huyện Đ, tỉnh Điện Biên kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi áo ngực bên trái của bị cáo 01 lọ nhựa có chứa 16 viên ma túy tổng hợp. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tổ công tác Công an xã X đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số viên ma tuý trên theo quy định của pháp luật để điều tra làm rõ vụ án.
Tại Biên bản mở niêm phong vật chứng cân khối lượng, lấy mẫu giám định và Kết luận giám định số: 1155/KL-KTHS ngày 13/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của bị cáo Sùng Giống C là 1,55 gam và trích mẫu gửi giám định 0,2 gam được xác định là ma túy loại Methamphetamine, vật chứng còn lại 1,35 gam.
Ngoài số ma túy trên, Cơ quan công an còn thu giữ của bị cáo 01 (một) lọ nhựa màu trắng, nắp màu vàng bị cáo dùng để chứa số ma túy mua được.
Tại Cáo trạng số 85/CT-VKSĐB-P1 ngày 01/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Sùng Giống C về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Sùng Giống C về tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Sùng Giống C từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 1,35 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định và tịch thu, tiêu hủy 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp màu vàng bị cáo dùng để đựng số ma túy mua được là vật không còn giá trị sử dụng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo vắng mặt có gửi luận cứ bào chữa cho Hội đồng xét xử, theo luận cứ người bào chữa nhất trí với tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xem xét tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã giúp đỡ cơ quan có thẩm quyền phát hiện, bắt giữ và điều tra người có hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều này đã được cơ quan cảnh sát điều tra huyện Điện Biên Đông xác nhận. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS là tình tiết giảm nhẹ đối với Sùng Giống C. Xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn, nơi có tệ nạn ma túy xảy ra phức tạp nên đã ảnh hưởng không tốt đến bản thân bị cáo, xem xét bản thân bị cáo không có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chỉ mua về sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất. Hoàn cảnh bị cáo không có thu nhập ổn định nên khó có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo Sùng Giống C bị truy tố thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo C khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo khai nhận vì nghiện chất ma túy nên vào hồi 08 giờ phút ngày 06/7/2023 bị cáo mua được 01 lọ có chứa Methamphetamine từ một người đàn ông dân tộc Thái bị cáo không biết tên, không biết địa chỉ với giá 380.000 đồng để sử dụng. Bị cáo đã lấy ra 01 viên trong lọ để sử dụng sau khi mua được, số ma túy còn lại bị cáo cất trong lọ để vào túi áo ngực bên trái đi về nhà thì bị Tổ công tác Công an xã X bắt quả tang. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định bị cáo Sùng Giống C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, vào ngày 06/7/2023 có hành vi tàng trữ 1,35 gam Methamphetamine mục đích sử dụng, hành vi đó đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là đúng pháp luật, không oan sai.
[2]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Bị cáo Sùng Giống C nghiện chất ma túy, cố ý mua tàng trữ ma túy sử dụng, hành vi tuy diễn ra đơn giản nhưng là hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội cần xử lý nghiêm minh.
[3]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bản thân bị cáo đang trong độ tuổi lao động nhưng lại không tu chí làm ăn, sa vào tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh làm bài học răn đe, cảnh tỉnh chung.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo.
Căn cứ vào Công văn số 2180/CV ngày 02/10/2023 của Công an huyện Đ và lời khai của bị cáo trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, trong thời gian sinh sống tại địa phương, bị cáo C đã tích cực hợp tác với Cơ quan có trách nhiệm trong phát hiện và đấu tranh với tội phạm. Cụ thể ngày 16/01/2023, bị cáo có báo tin cho Công an huyện Đ vào ngày 17/01/2023 sẽ có đối tượng Vận chuyển ma túy từ xã Ph, huyện Đ sang xã X, huyện Đ để bán kiếm lời. Sau khi nhận được tin báo, Công an huyện Đ đã triển khai lực lượng để ngăn chặn bắt giữ. Kết quả, đúng 13 giờ 45 phút cùng ngày, Công an huyện Đ đã ngăn chặn và bắt quả tang được đối tượng Sình A S, sinh năm 1982 trú tại bản A, xã Ph, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thu giữ 02 bánh Heroine có khối lượng 704,4 gam tại khu vực bản N, xã Ph, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Tại phiên tòa, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã cung cấp Quyết định khởi tố bị can số 12/QĐ ngày 23/01/2023, Biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 14 giờ 50 phút ngày 17/01/2023. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ thể hiện bị cáo Sùng Giống C đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích tại các mục [1, 2, 3] trên Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, tài sản gia đình chỉ là những vận dụng trong cuộc sống nên khó có khả năng thi hành án, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát đã đề xuất.
[5] Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 1,35 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và tịch thu, tiêu hủy 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp màu vàng bị cáo dùng để đựng số ma túy mua được là vật không còn giá trị sử dụng.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án lẽ ra phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, tuy nhiên bị cáo thuộc diện dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8]. Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông dân tộc Thái là người bị cáo khai đã bán bị cáo. Do bị cáo không có thông tin cụ thể về tên đầy đủ, năm sinh, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ được và không đề cập xử lý trong vụ án này. Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Sùng Giống C (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Sùng Giống C 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 06/7/2023).
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 1,35 gam Methamphetamine còn lại sau giám định.
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp màu vàng là vật không có giá trị sử dụng.
(Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 02/10/2023 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/11/2023).
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Quang |
Bản án số 10/2023/HSST ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sùng Giống C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
