|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 10/2023/DS-PT Ngày: 05-12-2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Ông Vũ Hà Nam
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”.
Do bản án dân sự số 24/2023/DS-ST ngày 26-6-2023 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 38/2023/QĐ-PT ngày 30-10-2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 170/2023/QĐ-PT ngày 15-11-2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1989; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn D, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1966; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (theo Giấy ủy quyền ngày 13-12-2022).
- Bị đơn: Tổng công ty cổ phần B (PTI). Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Y - chức vụ: Tổng giám đốc - Tổng công ty cổ phần B; người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Đình Q và ông Phạm Quang Đ, chức vụ: Chuyên viên pháp lý của Công ty cổ phần B1. Địa chỉ trụ sở: PTI Tower - số I đường T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
- Người kháng cáo: Bị đơn - Tổng công ty cổ phần B (PTI).
Tại phiên tòa phúc thẩm: Có mặt Bà Hoàng Thị T và ông Hồ Đình Q, vắng mặt ông Phạm Quang Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 17-12-2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Vũ Thị N và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Hoàng Thị T trình bày:
Chị Vũ Thị N mua bảo hiểm thông qua hình thức đơn bảo hiểm điện tử với Công ty B2 là đơn vị trực thuộc của Tổng công ty cổ phần B. Gói bảo hiểm thuộc chương trình “PTI VỮNG TÂM AN +”, được thực hiện theo Quy tắc bảo hiểm số 270/QĐ-PTI-BHCN của Tổng công ty cổ phần B. Toàn bộ thủ tục đăng ký mua bảo hiểm, nộp phí bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm của chị N đều được thực hiện online trên hệ thống phần mềm của Tổng công ty cổ phần B. Chị Vũ Thị N đã được cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022. Giấy chứng nhận bảo hiểm có các nội dung cụ thể như sau:
- Người mua bảo hiểm là chị Vũ Thị N; người được bảo hiểm là chị Vũ Thị N.
- Thời hạn bảo hiểm đối với chị Vũ Thị N là 12 tháng, tính từ ngày 27-02-2022 đến ngày 27-02-2023.
- Phí bảo hiểm là 790.000 đồng. Phí bảo hiểm đã được chị Vũ Thị N đóng toàn bộ một lần vào ngày 26-02-2022.
- Quyền lợi bảo hiểm: Người được bảo hiểm được hưởng quỹ trợ cấp nằm viện điều trị dịch bệnh tại các cơ sở y tế khi người được bảo hiểm nhập viện sau 03 ngày kể từ ngày bắt đầu bảo hiểm là 12.000.000 đồng. Đối với người được bảo hiểm đã tiêm chủng phòng ngừa dịch bệnh thì quỹ trợ cấp này tăng gấp đôi, tức là sẽ được hưởng 24.000.000 đồng.
Chị Vũ Thị N đã được tiêm chủng phòng ngừa bệnh Covid-19 mũi 3 vào ngày 15-3-2022 tại Trạm Y tế xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Đến ngày 18-3-2022 thì chị Vũ Thị N được xác định bị mắc bệnh Covid-19 theo Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm PCR của Công ty TNHH T1 - Phòng khám Đ1, địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố T. Ngày 18-3-2022, chị Vũ Thị N được đưa vào điều trị tại “Cơ sở 2 Thu Dung điều trị Covid-19 thuộc Trung tâm Y tế huyện H, sở Y tế tỉnh T” để điều trị bệnh Covid-19. Đến ngày 25-3-2022 chị N được ra viện.
Sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, chị Vũ Thị N đã làm thủ tục thông báo việc bản thân bị mắc bệnh Covid-19 và phải điều trị tại cơ sở y tế cho Tổng công ty cổ phần B. Các giấy yêu cầu bảo hiểm, chứng từ điều trị của chị N đã được chụp ảnh và cập nhật trên hệ thống phần mềm của Tổng công ty cổ phần B ngay trong tháng 3/2022. Ngoài việc khai báo online, chị Vũ Thị N còn gửi bộ hồ sơ gốc yêu cầu bảo hiểm và chứng từ điều trị cho Tổng công ty cổ phần B theo đường bưu chính.
Ngày 10-5-2022, Tổng công ty cổ phần B có thông báo giải quyết quỹ hỗ trợ với mức chi hỗ trợ cho chị Vũ Thị N là 12.000.000 đồng. Chị Vũ Thị N không đồng ý với mức hỗ trợ trên và yêu cầu Tổng công ty cổ phần B phải thực hiện trả tiền bảo hiểm cho chị N là 24.000.000 đồng với lý do theo Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022 và Phụ lục tại trang 2 thì trường hợp của chị N đã thỏa mãn tất cả các điều kiện của hợp đồng bảo hiểm. Cụ thể là chị N đã bị mắc bệnh Covid-19 sau hơn 03 ngày kể từ ngày bắt đầu bảo hiểm, đã được tiêm chủng phòng ngừa bệnh Covid-19, đã được điều trị tại cơ sở y tế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập; đồng thời trường hợp của chị Vũ Thị N không thuộc bất cứ điểm loại trừ nào theo Quy tắc bảo hiểm số 270/QĐ-PTI-BHCN và Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022 của Tổng công ty cổ phần B.
Ngoài ra, theo quy định của khoản 3, mục tóm tắt nội dung bảo hiểm của Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022 thì Tổng công ty cổ phần B phải trả tiền bảo hiểm trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ đầy đủ và hợp lệ. Tổng công ty cổ phần B đã tiếp nhận bộ hồ sơ yêu cầu bồi thường hợp lệ của chị Vũ Thị N từ tháng 3/2022 và đến nay vẫn chưa trả tiền bảo hiểm cho chị N. Vì vậy, yêu cầu Tổng công ty cổ phần B phải trả cho chị N số tiền lãi do chậm trả tiền bảo hiểm theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Người đại diện theo ủy quyền của chị Vũ Thị N yêu cầu Tòa án giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (Tổng công ty cổ phần B) trình bày:
Ngày 26-02-2022 chị Vũ Thị N mua bảo hiểm thuộc chương trình “PTI VỮNG TÂM AN +”, được thực hiện theo Quy tắc bảo hiểm số 270/QĐ-PTI-BHCN của Tổng công ty cổ phần B. Thủ tục đăng ký mua bảo hiểm, nộp phí bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho chị Vũ Thị N được thực hiện online trên hệ thống phần mềm của Tổng công ty cổ phần B. Chị Vũ Thị N đã được cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022. Thời hạn bảo hiểm đối với chị Vũ Thị N là 12 tháng, tính từ ngày 27-02-2022 đến ngày 27-02-2023. Phí bảo hiểm là 790.000 đồng, chị Vũ Thị N đóng toàn bộ phí bảo hiểm vào ngày 26-02-2022.
Sau khi chị Vũ Thị N bị mắc bệnh Covid-19 và được điều trị tại Cơ sở thu dung điều trị Covid-19 thuộc Trung tâm Y tế huyện H, sở Y tế tỉnh T, chị Vũ Thị N đã làm thủ tục thông báo trên hệ thống phần mềm của Tổng công ty cổ phần B vào ngày 29-3-2022. Tổng công ty cổ phần B cũng đã nhận được bộ hồ sơ gốc yêu cầu trả tiền bảo hiểm của khách hàng chị Vũ Thị N, bao gồm giấy yêu cầu bảo hiểm và các chứng từ điều trị của chị Vũ Thị N từ ngày 29-3-2022. Tổng công ty cổ phần B không yêu cầu chị Vũ Thị N bổ sung thêm hồ sơ, tài liệu gì khác.
Chị Vũ Thị N mắc bệnh Covid-19 là thuộc sự kiện bảo hiểm quy định trong chương trình bảo hiểm “PTI VỮNG TÂM AN +”. Tuy nhiên do chị Vũ Thị N bị mắc bệnh Covid-19 sau khi Chính phủ thực hiện chủ trương miễn dịch cộng đồng, số lượng người mắc bệnh Covid-19 rất nhiều. Để giải quyết việc điều trị cho người mắc bệnh Covid-19, Bộ Y1 đã ban hành Quyết định số 5525/QĐ-BYT ngày 01-12-2021 và Quyết định 250/QĐ-BYT ngày 28-01-2022 để phân loại nhóm nguy cơ cần điều trị tại cơ sở y tế. Theo hướng dẫn của các văn bản trên thì chị Vũ Thị N mắc bệnh Covid-19, nhưng không thuộc nhóm nguy cơ cần điều trị tại cơ sở y tế. Vì vậy trường hợp của chị Vũ Thị N là không thuộc trường hợp được trả tiền bảo hiểm. Tổng công ty cổ phần B đã thông báo đồng ý hỗ trợ cho chị Vũ Thị N số tiền là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) nhưng chị Vũ Thị N không đồng ý.
Tổng công ty cổ phần B kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 26-6-2023 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết tranh chấp bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Tại bản án số 24/2023/DS-ST ngày 26-6-2023 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đã quyết định:
- Căn cứ Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 13; Điều 14; Điều 15; Điều 16; điểm c khoản 2 Điều 17; Điều 22; Điều 29 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị N.
2. Buộc Tổng công ty cổ phần B phải trả cho chị Vũ Thị N số tiền bảo hiểm là 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
3. Buộc Tổng công ty cổ phần B phải trả cho chị Vũ Thị N số tiền chậm trả đối với số tiền bảo hiểm 24.000.000 đồng kể từ ngày 14-4-2022 đến hết ngày xét xử sơ thẩm (26-6-2023) là 2.887.000 đồng (hai triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27-6-2023) cho đến khi thi hành án xong, Tổng công ty cổ phần B phải tiếp tục trả lãi đối với số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Không chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị N buộc Tổng công ty cổ phần B phải trả cho chị Vũ Thị N 3.300.000 đồng tiền chi phí đi lại do phát sinh trách nhiệm ngoài hợp đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự và lãi suất chậm trả do chậm thi hành bản án.
Ngày 30-6-2023, P kháng cáo không đồng ý với toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của Tổng công ty cổ phần B giữ nguyên nội dung kháng cáo là không chấp nhận thanh toán số tiền 24.000.000 đồng và số tiền chậm trả đối với số tiền bảo hiểm 24.000.000 đồng kể từ ngày 14-4-2022 đến hết ngày xét xử sơ thẩm (26-6-2023) là 2.887.000 đồng. Vì căn cứ Quyết định số 5525/QĐ-BYT ngày 01-12-2021 và Quyết định 250/QĐ-BYT ngày 28-01-2022 do Bộ Y1 đã ban hành để giải quyết việc điều trị cho người mắc bệnh Covid-19. Chị N thuộc nhóm bệnh có nguy cơ trung bình, chị N 49 tuổi, đã được tiêm ngừa Covid-19 nên thuộc trường hợp chăm sóc tại nhà dưới sự hướng dẫn của nhân viên y tế. Khách hàng không sử dụng loại thuốc theo hướng dẫn của Bộ Y1 điều trị Covid-19 nên không thỏa mãn điều kiện của quỹ hỗ trợ “Nằm viện điều trị” dịch bệnh. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định để phân loại đối tượng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Tổng công ty cổ phần B. Về yêu cầu tính lãi thì ngày 10-5-2022, Tổng công ty cổ phần B đã có thông báo đưa phương án và khoản tiền hỗ trợ cho chị N là 12.000.000 đồng nhưng chị N không đồng ý nên xảy ra tranh chấp. Do vậy, việc tính lãi suất của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định từ thời điểm 09-4-2022 đến hết ngày xét xử sơ thẩm là không có căn cứ. Đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Tổng công ty cổ phần B.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm buộc Tổng công ty cổ phần B phải trả tiền bảo hiểm cho chị Vũ Thị N là 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng) và trả lãi đối với số tiền bảo hiểm chậm trả kể từ ngày 14-4-2022 đến hết ngày xét xử sơ thẩm (26-6-2023) là 2.887.000 đồng.
Kiểm sát viên - Viện kiểm sát tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến:
Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.
Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu thu thập lưu hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Căn cứ vào các tài liệu thu thập lưu hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Buộc Tổng công ty cổ phần B phải trả tiền bảo hiểm cho chị Vũ Thị N là 24.000.000 đồng và trả lãi đối với số tiền bảo hiểm chậm trả với tổng số tiền là 2.887.000 đồng là có căn cứ pháp lý. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 26-6-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
Án phí phúc thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét kháng cáo của các đương sự:
[1] Đơn kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của Tổng công ty cổ phần B làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về trình tự thủ tục tố tụng:
2.1. Về người tham gia tố tụng: Sau khi đưa vụ án ra xét xử Tổng công ty cổ phần B thay đổi người đại diện theo pháp luật từ ông Nguyễn Kim L sang bà Hoàng Thị Y, sau đó bà Y ủy quyền cho ông Hồ Đình Q và ông Phạm Quang Đ tham gia tố tụng tại phiên tòa, xét thấy thủ tục tố tụng của Tổng công ty cổ phần B là đảm bảo quy định của pháp luật nên được Tòa án chấp nhận.
2.2. Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án: Chị N ký hợp đồng bảo hiểm với Tổng công ty cổ phần B, quá trình thực hiện hợp đồng xảy ra tranh chấp, chị N khởi kiện Tổng công ty cổ phần B với các nội dung liên quan đến thực hiện hợp đồng của Tổng công ty cổ phần B nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.
2.3. Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA- PLUS/2022 ngày 26-02-2022 thì chị Vũ Thị N giao kết hợp đồng bảo hiểm với Công ty B2, thuộc Tổng công ty cổ phần B. Theo đơn khởi kiện, chị N đã lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định là Tòa án nơi có trụ sở chi nhánh giao kết hợp đồng bảo hiểm để giải quyết tranh chấp, các đương sự không có thỏa thuận về lựa chọn tòa án giải quyết. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của Tổng công ty cổ phần B:
3.1. Đối với yêu cầu trả tiền bảo hiểm: Xét yêu cầu của chị Vũ Thị N buộc Tổng công ty cổ phần B phải thanh toán số tiền bảo hiểm 24.000.000 đồng.
3.1.1. Về việc giao kết hợp đồng: Ngày 26-02-2022 chị Vũ Thị N mua bảo hiểm thông qua hình thức đơn bảo hiểm điện tử với Công ty B2, là đơn vị trực thuộc của Tổng công ty cổ phần B. Sau khi chị N đã đóng đầy đủ phí bảo hiểm, Công ty B2 đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022. Giấy chứng nhận bảo hiểm và Phụ lục kèm theo có ghi các nội dung cụ thể của hợp đồng bảo hiểm, bao gồm: Người mua bảo hiểm là chị Vũ Thị N, người được bảo hiểm là chị Vũ Thị N; thời hạn bảo hiểm đối với chị Vũ Thị N là 12 tháng, tính từ ngày 27-02-2022 đến ngày 27-02-2023; phí bảo hiểm là 790.000 đồng; quyền lợi bảo hiểm: Người được bảo hiểm được hưởng quỹ trợ cấp nằm viện điều trị dịch bệnh tại các cơ sở y tế khi người được bảo hiểm nhập viện sau 03 ngày kể từ ngày bắt đầu bảo hiểm là 12.000.000 đồng. Đối với người được bảo hiểm đã tiêm chủng phòng ngừa dịch bệnh thì quỹ trợ cấp này tăng gấp đôi, tức là sẽ được hưởng 24.000.000 đồng. Ngoài ra giấy chứng nhận bảo hiểm và phụ lục kèm theo còn có các nội dung về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, thời hạn trả tiền bảo hiểm.
Việc cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm của Tổng công ty cổ phần B cho chị N đã chứng minh các điều khoản thỏa thuận giữa hai bên đã xong, hợp đồng đã được ký kết. Căn cứ Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 22 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) thì hợp đồng bảo hiểm giữa chị Vũ Thị N và Tổng công ty cổ phần B là hợp pháp và có hiệu lực thực hiện; trách nhiệm bảo hiểm của Tổng công ty cổ phần B đối với chị Vũ Thị N phát sinh từ ngày 27-02-2022 đến ngày 27-02-2023.
3.1.2. Về sự kiện bảo hiểm: Căn cứ vào Phiếu xét nghiệm PCR ngày 18-3-2022 của Công ty TNHH T1 - Phòng khám Đ1 địa chỉ 112 đường T, phường T, thành phố T thì chị Vũ Thị N bị mắc bệnh Covid-19. Như vậy, chị Vũ Thị N đã bị mắc bệnh Covid-19 sau 20 ngày kể từ ngày được bắt đầu bảo hiểm là ngày 27-02-2022. Ngày 18-3-2022, chị Vũ Thị N đã được đưa vào Cơ sở 2 thu dung điều trị Covid-19 thuộc Trung tâm Y tế huyện H - Sở Y tế tỉnh T; đây là cơ sở y tế hợp pháp được Sở Y tế tỉnh T thành lập để điều trị cho các bệnh nhân mắc Covid-19. Các tình tiết trên là cơ sở để xác định sự kiện bảo hiểm được nêu trong Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022 và phụ lục kèm theo đã xảy ra trong thời hạn bảo hiểm của chị Vũ Thị N.
3.1.3. Về nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm: Căn cứ nhận định tại mục 3.1.2 về việc chị Vũ Thị N bị mắc bệnh Covid-19 trong thời hạn bảo hiểm, được điều trị tại cơ sở y tế hợp pháp là sự kiện bảo hiểm được nêu trong Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022 và phụ lục kèm theo; đồng thời việc chị Vũ Thị N bị mắc bệnh Covid-19 không thuộc bất cứ điểm loại trừ nào được ghi trong Quy tắc bảo hiểm số 270/QĐ-PTI-BHCN và Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022. Vì vậy, căn cứ Điều 16 và điểm c khoản 2 Điều 17 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) thì Tổng công ty cổ phần B có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng là chị Vũ Thị N theo quy định của hợp đồng bảo hiểm.
Do chị Vũ Thị N bị mắc bệnh Covid-19 sau khi đã được tiêm chủng phòng ngừa dịch bệnh Covid-19, vì vậy căn cứ quy định tại phụ lục của Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022 thì số tiền bảo hiểm cho trường hợp của chị Vũ Thị N là 24.000.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Tổng công ty Cổ phần B có nghĩa vụ trả cho chị Vũ Thị N số tiền bảo hiểm là 24.000.000 đồng là có căn cứ. Việc Tổng công ty Cổ phần B cho rằng hồ sơ của khách hàng không điều trị theo phác đồ của Bộ Y1 theo hướng dẫn chuẩn đoán và điều trị Covid-19 tại Quyết định số 250/QĐ-BYT ngày 28.01.2022 nên không thỏa mãn điều kiện của quỹ hỗ trợ “Nằm viện điều trị” dịch bệnh. Xét thực tế sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, chị N đã cung cấp toàn bộ hồ sơ cho Tổng công ty Cổ phần B theo yêu cầu và đúng thỏa thuận, trong thỏa thuận cũng không đề cập đến vấn đề này. Tổng công ty Cổ phần B sau khi nhận hồ sơ không yêu cầu chị N bổ sung thông tin gì thêm nên quan điểm của Tổng công ty cổ phần B không được chấp nhận.
3.2. Đối với yêu cầu Tổng công ty cổ phần B trả tiền bảo hiểm chậm trả.
3.2.1. Căn cứ Điều 29 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và mục 2 chương V Quy tắc bảo hiểm số 270/QĐ-PTI-BHCN, mục 3 phần III Giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001534/GCN/040-KTTT/VTA-PLUS/2022 ngày 26-02-2022 thì Tổng công ty cổ phần B có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm trong thời hạn chậm nhất là 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ đầy đủ và hợp lệ. Theo xác nhận của người đại diện Tổng công ty cổ phần B thì Tổng công ty cổ phần B đã nhận được bộ hồ sơ yêu cầu trả tiền bảo hiểm của chị Vũ Thị N ngày 29-3-2022, không yêu cầu chị N phải bổ sung thêm hồ sơ, tài liệu gì khác. Vì vậy, thời hạn cuối cùng mà Tổng công ty cổ phần B phải trả tiền bảo hiểm cho chị N là ngày 13-4-2022. Do Tổng công ty cổ phần B không trả tiền bảo hiểm đúng thời hạn nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tổng công ty cổ phần B phải trả tiền chậm trả đối với số tiền bảo hiểm với mức lãi suất 10%/năm, kể từ ngày 14-4-2022 cho đến ngày xét xử (26/6/2023) là: 24.000.000 đồng x 10%/năm/12 tháng x 14 tháng 13 ngày = 2.887.000 đồng (hai triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
3.2.2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Tổng công ty cổ phần B phải trả tiền lãi đối với số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[4] Tại phiên tòa người kháng cáo cũng không nộp được tài liệu nào để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do vậy kháng cáo của Tổng công ty cổ phần B không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 13, điểm a khoản 2 và điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải nộp án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Tổng công ty cổ phần B. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 26-6-2023 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Tổng công ty cổ phần B phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đối trừ với số tiền 300.000 đồng, đối trừ với số tiền 300.000 đồng PTI đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định theo biên lai số 0000214 ngày 07-7-2023, PTI đã nộp đủ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Cảnh |
Bản án số 10/2023/DS-PT ngày 05/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Số bản án: 10/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
