Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày: 05/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán sơ cấp- Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đệ;
  • Bà Nguyễn Thị Mai.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 05/01/2024, hồi 17 giờ 00 phút, tại Trụ sở Hội trường xét xử trực tuyên Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 290/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 303/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ VĂN B, sinh năm: 1991, tại: Hà Nội; Nơi thường trú: Thôn B, xã K, huyện Đ, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Xuân M, Sinh năm: 1963; Con bà: Nguyễn Thị C, Sinh năm: 1963; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- C3. Số giam: 5430 C2/4.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trên cơ sở kết quả điều tra xác định được như sau:

Hồi 10 giờ 05 phút ngày 12/9/2023, tổ công tác Công an xã V, huyện Đ làm nhiệm vụ tại khu vực bãi cát thôn Đ, xã V, huyện Đ. Khi tổ công tác đi vào đường bãi cát thôn Đ phát hiện 02 nam giới đi trên chiếc xe mô tô từ khu vực bãi cát hướng ra ngoài đường Đ có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an, người nam giới ngồi phía sau xe mô tô nhảy xuống xe vứt đồ vật gì đó xuống đất, còn người lái xe mô tô phóng xe bỏ chạy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính người nam giới tự khai Lê Văn B1 (SN: 1991, HKTT: Thôn B, xã K, huyện Đ, TP Hà Nội ) đến khu ven sông thôn Đ để mua ma túy tổng hợp để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, B1 cùng người xe ôm đi ra ngoài thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Do hoảng sợ nên B1 đã nhảy xuống xe và vứt túi ma túy xuống đất cách vị trí B1 đứng 01 mét.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản kiểm tra hành chính, vẽ sơ đồ, chụp ảnh hiện trường nơi B1 đã vứt ma túy. Tại vị trí trên mặt đất nơi B1 vứt, tổ công tác phát hiện 01 túi nilon màu trắng, KT (6x9)cm bên trong chứa: 01 niên nén màu hồng và 01 túi nilon màu trắng, KT(2x2)cm chứa tinh thể màu trắng.

Ngoài ra tổ công tác tiến hành khám người theo thủ tục hành chính đối với Lê Văn B1 phát hiện tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, lắp kèm sim số thuê bao 0866490597, 0904191782 và số tiền 210.000 đồng.

Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Lê Văn B1 về Trụ sở để xác minh làm rõ.

Xét nghiệm nước tiểu đối với Lê Văn B1 kết quả dương tính với chất ma túy.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn B1 tại Thôn B, xã K, huyện Đ, Tp Hà Nội không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì có liên quan đến vụ án.

Ngày 12/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra quyết định trưng cầu giám định Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông và 01 viên nén màu hồng thu giữ của Lê Văn B1. Tại bản kết luận giám định số 6216 ngày 19/9/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

  • - 01 túi nilon bên trong có:
  • + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,278 gam.
  • + 01 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,103 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn B1 khai nhận hành vi như đã nêu trên và khai: Khoảng 09 giờ ngày 12/9/2023, B1 liên lạc từ số thuê bao 0866490597 của Bính đến số thuê bao 0971247401 của một người nam giới (không biết nhân thân, lai lịch cụ thể) hỏi mua 300.000 đồng ma túy “đá” và 01 viên ma túy “ngựa” giá 100.000 đồng. Người này đồng ý và đọc số tài khoản ngân hàng cho B1, yêu cầu B1 chuyển khoản số tiền 400.000 đồng cho anh ta. B1 đồng ý chuyển khoản từ số tài khoản 21410002843528 ngân hàng B2 của B1 đến số tài khoản 0387848125 của ngân hàng V cho người nam giới bán ma túy. Sau đó, B1 thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết và bảo ông ta chở B1 đến khu vực bãi cát thuộc Đ, xã V. Đến nơi, B1 bảo người lái xe ôm chờ, còn B1 một mình đi bộ xuống rìa bờ sông để mua ma túy. Tại đây, có một người nam giới (bính không quen biết) đi thuyền ngang qua chỗ B1 đứng chờ và ném 01 gói nilon màu đen từ trên thuyền lên bờ. B1 cầm gói nilon màu đen mở ra bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa 01 viên ma túy “ngựa” và 01 túi nilon chứa ma túy “đá”. Bính vứt túi nilon màu đen đi và cầm túi ma túy trên tay rồi quay lại chỗ người lái xe ôm chờ. Khi B1 lên xe và được người xe ôm chở một đoạn khoảng 300 mét thì có lực lượng Công an đến kiểm tra. Do hoảng sợ nên B1 đã vứt túi ma túy xuống đất, còn người lái xe ôm phóng xe bỏ chạy.

Mục đích Lê Văn B1 mua ma túy là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Xác minh số tài khoản 0387848125 tại ngân hàng TMCP V1 (V) kết quả chủ tài khoản tên Nguyễn Đức T (SN: 2003, HKTT: TDP Đ, phường T, quận B, TP Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra anh Nguyễn Đức T trình bày: Tài khoản 0387848125 tại ngân hàng TMCP V1 (V) là của anh T, anh T dùng để giao dịch cá nhân. Do anh T không có thói quen kiểm tra tài khoản nên không biết việc ngày 12/9/2023 Lê Văn B1 chuyển khoản số tiền 400.000 đồng vào tài khoản của anh T, chỉ khi làm việc với Cơ quan điều tra anh T mới biết việc này. Anh T cũng không biết vì sao B1 lại chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản ngân hàng của anh T và anh T không quen biết ai tên Lê Văn B1. Quá trình sử dụng số tài khoản 0387848125 tại ngân hàng TMCP V1 thì chỉ có một mình anh T sử dụng số tài khoản này, anh T không cho ai khác mượn hay dùng chung số tài khoản này. Anh T đã giao nộp lại số tiền 400.000 đồng mà B1 đã chuyển vào tài khoản của anh T ngày 12/9/2023.

Xác minh chủ thuê bao 0971247401 tại Tập đoàn C4 kết quả chủ thuê bao tên Lương Văn C1 (SN: 1980, HKTT: Bản Na, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An). Tại cơ quan điều tra anh Lương Văn C1 trình bày: Anh C1 chưa bao giờ sử dụng số thuê bao 0971247401 và không biết ai sử dụng số thuê bao này. Việc số thuê bao trên có đăng ký mang tên anh C1 thì anh C1 hoàn toàn không biết.

Đối với người lái xe ôm đã chở Lê Văn B1 đến khu vực bãi cát thuộc Đ, V, Đ, Hà Nội, B1 khai không rõ nhân thân, lai lịch của người này và việc B1 đi mua ma túy thì người lái xe ôm không biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với người nam giới điều khiển thuyền ném ma túy cho B1, B1 khai không biết nhân thân, lai lịch của người này và không nhớ được đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Về vật chứng thu giữ:

Đối với 0,308 gam ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì dán kín có chữ ký của Giám định viên, cán bộ niêm phong và Lê Văn B1 (sau giám định, Phòng PC09 đã thu mẫu 0,073 gam); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO có số Imei 1:865222041891312, số Imei 2: 865222041891304, lắp kèm sim số thuê bao 0866490597, 0904191782 và số tiền 610.000đ thu giữ của B1. Xét thấy ma túy là chất cấm, điện thoại sử dụng vào giao dịch mua bán ma túy, tiền sử dụng để mua ma túy là vật chứng của vụ án hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án nhân dân huyện Đông Anh.

Bản Cáo trạng số 276/CT-VKSÐA ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận khoảng 10 giờ 05 phút ngày 12/9/2023, tại tại khu vực bãi cát thôn Đ, xã V, huyện Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy loại methaphetamin. Bị cáo khai mua của người không quen biết, khi giao nhận ma túy, bị cáo cầm trên tay mục đích mang về sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ.

Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy không làm chủ được bản thân nên phạm tội. Bị cáo hứa sửa chữa và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, luận tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
  • - Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu tiêu huỷ đối với 0,308 gam ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì dán kín có chữ ký của Giám định viên, cán bộ niêm phong và Lê Văn B1 (sau giám định, Phòng PC09 đã thu mẫu 0,073 gam); 01 sim số thuê bao 0866490597, 0904191782.
  • +Tịch thu xung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO có số Imei 1:865222041891312, số Imei 2: 865222041891304 và số tiền 610.000đ thu giữ của B1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố.

[2] Về hành vi và tội danh: Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 12/9/2023, tại tại khu vực bãi cát thôn Đ, xã V, huyện Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy loại methaphetamin. Bị cáo khai mua của người không quen biết, khi giao nhận ma túy, bị cáo cầm trên tay mục đích mang về sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đặc biệt là bệnh HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận số ma túy thu được để bị cáo dùng. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng bản thân nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi nêu trên của Lê Văn B1 đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...

c).........Methaphetamin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam .........”.

Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố bị cáo là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân và tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về tội lỗi của mình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về quyết định hình phạt: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích mua ma túy về sử dụng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được sự nguy hiểm của chất ma túy đối với xã hội nhưng vẫn phạm tội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp: Các vật chứng liên quan đến tội phạm cần được xử lý theo quy định của pháp luật. Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu huỷ đối với 0,308 gam ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì dán kín có chữ ký của Giám định viên, cán bộ niêm phong và Lê Văn B1 (sau giám định, Phòng PC09 đã thu mẫu 0,073 gam); 01 sim số thuê bao 0866490597, 0904191782.
  • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO có số Imei 1:865222041891312, số Imei 2: 865222041891304 và số tiền 610.000đ thu giữ của B1.

(Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng ngày giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • + Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • + Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • + Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Văn B1 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ 12/9/2023.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

  • + Tịch thu tiêu huỷ đối với 0,308 gam ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì dán kín có chữ ký của Giám định viên, cán bộ niêm phong và Lê Văn B1 (sau giám định, Phòng PC09 đã thu mẫu 0,073 gam); 01 sim số thuê bao 0866490597, 0904191782.
  • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO có số Imei 1:865222041891312, số Imei 2: 865222041891304 và số tiền 610.000đ thu giữ của B1.

(Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng ngày giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - UBND xã Kim Chung;
  • - Sở TP Thành phố Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Triệu Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Văn Bính phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger