TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HSST
Ngày 04/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Xuân Giai.
Bà Ma Thị Sao.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Triệu Giang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Luận, ông Cà Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/HSST ngày 23 tháng 4 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Đàm Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20/11/1982. Nơi sinh: Huyện P, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Văn N, sinh năm 1963, con bà Mô Thị V, sinh năm 1961; vợ: C số với nhau như vợ chồng với bà Nông Thị H1, sinh năm 1983 nhưng không đăng ký kết hôn; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến 09/01/2024 thì được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nông Thị H1, sinh năm 1983; trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02 tháng 01 năm 2024, Đội Điều tra tổng hợp Công an huyện P phối hợp với Công an xã C, huyện P tuần tra tại thôn C, xã C, huyện P phát hiện Đàm Văn H sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn đang điều khiển xe mô tô biển số 97B1-307.93 có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy, nên đã yêu cầu H dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ tại túi quần đằng trước bên trái, H đang mặc có 01 gói nhỏ được gói bằng hai lớp giấy loại giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong chứa chất mà trắng dạng cục và dạng bột, H thừa nhận là ma túy, loại heroine, tổ công tác đã niêm phong gói nhỏ nghi là ma túy vào phong bì ký hiệu H1 và tạm giữ cùng một số đồ vật, tài sản khác để tiến hành điều tra theo quy định.
Số chất màu trắng trong phong bì ký hiệu H1 được tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Tại biên bản cân xác định khối lượng chất nghi ma túy hồi 14 giờ 45 phút ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P xác định: Chất trắng dạng cục và bột nghi là ma túy trong phong bì niêm phong ký hiệu H1 có khối lượng là 0,14g (không phẩy một bốn gam), sau khi cân khối lượng, toàn bộ chất màu trắng nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì ký hiệu G1 để gửi giám định. Giấy gói, vỏ phong bì cũ ký hiệu H1 được niêm phong vào phong bì ký hiệu G2 để bảo quản theo quy định.
Ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 02.
Tại kết luận giám định số 41 ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (heroin), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu G1 có khối lượng là 0,14g (không phẩy một bốn gam).
2
Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Đàm Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân: Khoảng 10 giờ ngày 02 tháng 01 năm 2024, H một mình điều khiển xe mô tô biển số 97B1-307.93 của chị Nông Thị Hiếu s năm 1983, trú tại thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn đi đến khu vực gần cổng Trung tâm Y tế huyện B, tỉnh Bắc Kạn tìm và mua được 01 gói ma túy heroine với một người đàn ông lạ mặt (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 200.000đ, sau khi mua được ma túy Hoan cất giấu gói ma túy trong túi quần bên trái đằng trước chiếc quần đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về, khi đi đến thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ cùng tang vật. Bản thân H đã sử dụng ma túy được khoảng 03 năm nay, loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức sử dụng là hít vào cơ thể. Ngày 02 tháng 01 năm 2024, H tàng trữ trái phép chất ma túy để bản thân sử dụng, không có mục đích khác.
Vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án bao gồm:
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION; màu sơn: Nâu, đã qua sử dụng; số máy JP33E0468008, số khung 331XDDY387866; biển kiểm soát 97B1-307.93 và chìa khóa xe. Tạm giữ của Đàm Văn H.
01 phong bì niêm phong ký hiệu G2, mặt trước phong bì ghi dòng chữ "Vụ Đàm Văn H", mặt sau có 01 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P.
01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, mặt trước màu trắng mặt sau màu hồng, đã qua sử dụng, có số imei 355836085208278. Bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng VIETTEL, số thuê bao 0868.292.xxx. Tạm giữ của Đàm Văn H.
01 phong bì niêm phong ký hiệu T33, mặt trước phong bì ghi dòng chữ "Mẫu hoàn trả sau giám định vụ: Đàm Văn H, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh B.
Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về kết quả cân xác định khối lượng; kết quả giám định chất ma túy.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSPN ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố đối với Đàm Văn H theo quy định tại c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Điều luật có nội dung:
3
- Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
- ...
- c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
- ...
- 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm trong phần luận tội đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung; Phạt tiền từ 5.000.000₫ đến 6.000.000đ; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T33, mặt trước phong bì ghi dòng chữ "Mẫu hoàn trả sau giám định và 02 hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh B; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G2, mặt trước phong bì ghi dòng chữ "Vụ Đàm Văn H" và 01 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P.
- Trả lại cho chị Nông Thị H1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION; loại xe: Hai bánh, màu sơn: Nâu, đã qua sử dụng; dung tích xi lanh: 108; số máy JP33E0468008, số khung 331XDDY387866; Biển kiểm soát 97B1-307.93 và chìa khóa xe.
- Trả lại cho bị cáo Đàm Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, mặt trước màu trắng mặt sau màu hồng, đã qua sử dụng, có số imei 355836085208278. Bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng VIETTEL, số thuê bao 0868.292.xxx. Cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
* Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy mình đã vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C1 huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,14 gam ma tuý, loại heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3] Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nớc về các chất ma túy, làm gia tăng tình hình tội phạm trên địa bàn. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trong khi bị cáo có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự. Vì vậy cần phải có một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm đảm bảo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[4] Về nhân thân: Bị cáo Đàm Văn H sinh ra và lớn lên tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn, được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 11/12 thì nghỉ học lao động tự do. Do bản tính thích ăn chơi đua đòi nên đã mắc nghiện ma túy. Ngày 02/01/2024 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị khởi tố bị can ngày ngày 09/01/2024, bị tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến 09/01/2024 thì được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[6] Hội đồng xét xử xét thấy bản cáo trạng số 10/CT-VKSPN ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố đối với Đàm Văn H theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[7] Về các nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa gồm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ 5.000.000đ đến 6.000.000đ; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định; xử lý vật chứng theo quy đinh của pháp luật. Các nội dung đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
9] Về vật chứng:
- Số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T33, mặt trước phong bì ghi dòng chữ "Mẫu hoàn trả sau giám định và 02 hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh B; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G2, mặt trước phong bì ghi dòng chữ "Vụ Đàm Văn H" và 01 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION; loại xe: Hai bánh, màu sơn: Nâu, đã qua sử dụng; dung tích xi lanh: 108; số máy JP33E0468008, số khung 331XDDY387866; Biển số đăng ký 97B1-307.93 và chìa khóa xe. Theo tài liệu trong hồ sơ thể hiện đây là tài sản của chị Nông Thị H1. Nguồn gốc chiếc xe của chị H1 được bố đẻ là ông Nông Văn H2 cho 02 con trâu đem bán lấy tiền mua xe. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe này vào việc thực hiện hành vi phạm tội chị H1 không được biết. Vì vậy cần trả lại chiếc xe cho chị Nông Thị H1.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, mặt trước màu trắng mặt sau màu hồng, đã qua sử dụng, có số imei 355836085208278. Bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng VIETTEL, số thuê bao 0868.292.xxx. Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo. Nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không có căn cứ xác định họ tên, địa chỉ, do vậy không có căn cứ để xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo 15 (mười năm) tháng tù, được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến 09/01/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T33, mặt trước phong bì ghi dòng chữ "Mẫu hoàn trả sau giám định và 02 hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh B; 01 phong bì niêm phong ký hiệu G2, mặt trước phong bì ghi dòng chữ "Vụ Đàm Văn H" và 01 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, mặt trước màu trắng mặt sau màu hồng, đã qua sử dụng, có số imei 355836085208278. Bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng VIETTEL, số thuê bao 0868.292.xxx. Nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho chị Nông Thị H1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION; loại xe: Hai bánh, màu sơn: Nâu, đã qua sử dụng; dung tích xi lanh: 108; số máy JP33E0468008, số khung 331XDDY387866; Biển số đăng ký 97B1-307.93 và chìa khóa xe.
Số lượng và tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/4/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm.
3. Về án phí:Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
7
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Tiến Đại |
8
Bản án số 10/2024/HSST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 10/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đàm Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy
