|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03/7/2024
V/v: “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thăng Bắc
Bà Hoàng Thị Thào
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/6/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Lê Thị V - sinh năm 1987; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- * Bị đơn: Anh Nông Văn S - sinh năm 1984; Vắng mặt. Không có lý do.
Cùng trú tại: Thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Theo đơn khởi kiện ngày 04/01/2024 và bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Lê Thị V trình bày:
- * Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V và anh Nông Văn S có quen biết, tìm hiểu tình cảm và tự nguyện về chung sống với nhau tại nhà chị Lê Thị V từ năm 2006 có địa chỉ thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Việc chung sống với nhau không được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật.
- Thời gian đầu chị V và anh S chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2008 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nên chị V và anh S thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm về cách sống dẫn đến tình cảm phai nhạt và không còn có tiếng nói chung trong cuộc sống. Từ đó anh S đã nhiều lần bỏ nhà đi với người khác, cho đến năm 2021 thì bỏ đi hẳn và không còn liên lạc với gia đình, không về thăm nhà lần nào. Chị V xác định hai vợ chồng sống ly thân từ thời điểm đó đến nay. Chị V nhận định tình cảm giữa chị và anh S đã trầm trọng, không thể hàn gắn được.
- Do đó, chị V đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nông Văn S.
- Quá trình giải quyết vụ án, chị V thay đổi yêu cầu khởi kiện từ đề nghị “Ly hôn” thành đề nghị “Không công nhận quan hệ vợ chồng” với anh Nông Văn S.
- * Về con chung: Chị V và anh S có 02 (hai) con chung là Nông Hoài T, giới tính nữ, sinh ngày 13/5/2006 và Nông Tuấn V1, giới tính nam, sinh ngày 09/7/2012. Con Nông Hoài T đã đủ 18 tuổi, phát triển khỏe mạnh, bình thường, không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con Nông Tuấn V1 sức khỏe tâm thần không ổn định, có bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh B và thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định, hiện con Nông Tuấn V1 đang sống cùng chị Lê Thị V. Khi Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng, chị V đề nghị giao con chung Nông Tuấn V1 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
- * Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.
- * Về tài sản chung, khoản nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Do hiện nay chị V đang là lao động tự do, không sắp xếp được thời gian nghỉ để tham gia phiên tòa, do vậy, chị V có văn bản về việc giữ nguyên toàn bộ ý kiến, lời khai đối với các vấn đề cần giải quyết trong vụ án và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị V.
-
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nông Văn S không có mặt tại nơi cư trú.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Nông Văn S theo địa chỉ thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nhưng không thấy anh S có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án. Anh S cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo yêu cầu. Tòa án đã nhiều lần đến địa chỉ nhà anh Nông Văn S tại thôn K, xã M huyện B, tỉnh Bắc Kạn để giao, tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác nhưng không lần nào gặp được anh Nông Văn S. Chính vì vậy, Tòa án không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo các giấy tờ, văn bản tố tụng cho anh S.
Tòa án đã xác minh tại gia đình bố mẹ anh S là nhà ông Nông Văn L, bà La Thị K trú tại thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn theo thông tin chị Lê Thị V cung cấp. Quá trình làm việc, xác định được: Thỉnh thoảng vào các dịp lễ tết anh S có về nhà bố mẹ tại thôn Bản Lùng, xã C để thăm nom và vẫn giữ liên lạc với người nhà qua điện thoại. Tòa án tiến hành giao Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho bà La Thị K và yêu cầu bà K giao văn bản và thông tin lại cho anh S được biết. Bà K cho biết anh S đã biết thông tin về việc Tòa án nhân dân huyện Ba Bể đang giải quyết vụ án và không có ý kiến gì. Để đảm bảo quyền lợi của đương sự và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đồng thời tiến hành xác minh, niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú cuối cùng của anh S.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện Kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì về thủ tục tố tụng.
- Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn (có đơn xin xét xử vắng mặt) và bị đơn (không có lý do). Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị Lê Thị V và anh Nông Văn S chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Do đó, Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 8 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147/BLTTDS; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị V, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị V và anh Nông Văn S.
- Về con chung: Giao con chung Nông Tuấn V1 sinh ngày 09/7/2012 cho chị Lê Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nông Văn S được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Anh Nông Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1]. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/01/2024, nguyên đơn chị Lê Thị V đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nông Văn S và giải quyết tranh chấp nuôi con chung. Tuy nhiên, chị Lê Thị V không cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn.
Tòa án nhân dân huyện Ba Bể đã xác minh việc đăng ký kết hôn giữa chị Lê Thị V và anh Nông Văn S tại Ủy ban nhân dân xã M (nơi cư trú của chị V) và tại Ủy ban nhân dân xã C (nơi cư trú ban đầu của anh S). Kết quả xác minh: Trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến ngày giải quyết, xét xử vụ án chị V và anh S không thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan quản lý Nhà nước theo quy định, vi phạm về việc đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp về “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn được quy định tại khoản 7, khoản 8 Điều 28/BLTTDS, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ.
-
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Việc Tòa án tiến hành các trình tự thủ tục tố tụng về thụ lý vụ án; xem xét xác minh thu thập tài liệu chứng cứ; thông báo để các bên đương sự tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ; hòa giải việc nuôi con chung và ghi nhận ý kiến được kịp thời, đúng quy định của pháp luật. Đảm bảo sự có mặt tham gia xét xử của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Lê Thị V vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn Nông Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238/BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn Lê Thị V và bị đơn Nông Văn S.
-
[3]. Về nội dung:
- * Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh S chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2006 nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm về việc đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Theo khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn: “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) ... yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ.”. Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Và tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.
- Từ các căn cứ trên, xác định việc kết hôn của anh chị là không thỏa mãn về mặt hình thức, không có giá trị pháp lý, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh S là không hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
- Trong quá trình chung sống, giữa chị V và anh S xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, xác định không thể hàn gắn, chị V không còn muốn gắn bó, xây dựng cuộc sống gia đình với anh S nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ giữa chị V và anh S là vợ chồng.
- Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị V và anh S đã phát sinh từ năm 2008 và diễn ra trong thời gian dài, đến nay đã trở nên trầm trọng. Từ năm 2021 anh S đã bỏ nhà đi không quan tâm, chăm sóc gia đình, bỏ mặc tình trạng hôn nhân cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh chị đã không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị V, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Lê Thị V và anh Nông Văn S là vợ chồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.
-
* Về con chung:
Chị Lê Thị V và anh Nông Văn S có 02 (hai) con chung là Nông Hoài T sinh ngày 13/5/2006 và Nông Tuấn V1 sinh ngày 09/7/2012. Con Nông Hoài T đã đủ 18 tuổi, phát triển khỏe mạnh, bình thường, không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động, chị V không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Con Nông Tuấn V1 bị khuyết tật nặng (dạng khuyết tật: Thần kinh - Tâm thần) có sức khỏe tâm thần không ổn định, có bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh B và thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định, không có tài sản riêng và hiện đang sống phụ thuộc mẹ đẻ là chị Lê Thị V. Chị V đề nghị giao con chung Nông Tuấn V1 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét thấy, hiện nay anh Nông Văn S đã bỏ nhà đi từ năm 2021, không có mặt tại địa phương, quá trình giải quyết vụ án không phối hợp với Tòa án để cung cấp tài liệu, ý kiến về việc nuôi con chung và chứng minh điều kiện nuôi con chung. Đồng thời, con chung Nông Tuấn V1 từ khi sinh ra đến nay sinh sống thường nhật với mẹ đẻ là chị Lê Thị V, cháu là người có khiếm khuyết về sức khỏe tinh thần, không có khả năng tự lao động, không có tài sản riêng để tự nuôi mình nên cần thiết được chăm sóc, nuôi dưỡng bởi người thân cận, có điều kiện, khả năng gắn bó lâu dài với cháu. Do vậy, việc giao con chung Nông Tuấn V1 cho mẹ là chị Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp và đảm bảo tính ổn định cũng như các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của con chung.
Anh Nông Văn S được đảm bảo quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định.
- * Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị V không yêu cầu anh Nông Văn S cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Tòa án không xem xét, giải quyết.
- * Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- [4]. Về án phí: Chị Lê Thị V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- [5]. Đối với đề nghị của Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7, khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 69; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị V.
- * Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Lê Thị V và anh Nông Văn S là vợ chồng.
-
* Về con chung: Chị Lê Thị V và anh Nông Văn S có 02 (hai) con chung là Nông Hoài T, sinh ngày 13/5/2006 và Nông Tuấn V1, sinh ngày 09/7/2012.
Con Nông Hoài T đã đủ 18 tuổi, phát triển khỏe mạnh, bình thường, không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Giao con chung Nông Tuấn V1 sinh ngày 09/7/2012 cho chị Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung thành niên và khỏi bệnh, có khả năng lao động, có tài sản để tự nuôi mình hoặc cho đến khi có thay đổi khác.
- * Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Anh Nông Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- * Về tài sản chung, vay nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
-
Về án phí:
Chị Lê Thị V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002278 ngày 05/4/2024. Xác nhận chị V đã nộp đủ tiền án phí.
-
Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Linh |
Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 7, khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 69; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị V. * Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Lê Thị Vinh và anh Nông Văn S là vợ chồng
