|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2026/DS-PT
Ngày: 08 - 01 - 2026
Về việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Dư Thành Trung
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Nguyễn Viết Cường - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 08 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 506/2025/TLDS-PT ngày 01 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 84/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 716/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đào Thị T, sinh năm 1969; địa chỉ: Số nhà C, Thôn B, xã D (Tổ dân phố B, thị trấn D, huyện D cũ), tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thu N, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ D, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng (Theo văn bản ủy quyền ngày 29/12/2025) – Có mặt.
Bị đơn: Ông K' Sú, sinh năm 1961; bà Ka M, sinh năm 1965. cùng địa chỉ: Số B Thôn T, xã D (Thôn B, xã T, huyện D cũ), tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
Do có kháng cáo của bị đơn ông K' Sú, bà Ka M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đào Thị T trình bày thì:
Do có quen biết với nhau từ trước nên ngày 14/10/2015 bà có cho vợ chồng ông K' Sú, bà Ka M vay số tiền 800.000.000đ, giao tiền mặt 800.000.000đ trực tiếp cho vợ chồng K' Sú, bà Ka M, hai bên thỏa thuận miệng với nhau lãi suất 1,5%/tháng, vào cuối năm trả tiền lãi, có thỏa thuận miệng với nhau là trong vòng 3 năm (tức là đến ngày 14/10/2018) vợ chồng ông K' Sú, bà Ka M sẽ trả hết tiền gốc.
Tuy nhiên, từ khi vay đến nay vợ chồng ông K' Sú, bà Ka M chưa trả tiền lần nào kể cả tiền gốc và tiền lãi. Mặc dù, bà đã đến nhà yêu cầu vợ chồng ông K' Sú, bà Ka M trả tiền nhiều lần nhưng vợ chồng ông K' Sú, bà Ka M vẫn không chịu trả tiền.
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng K' Sú, bà Ka MHúp trả 800.000.000đ tiền gốc và tiền lãi theo mức lãi suất 1,5%/tháng, sau đó điều chỉnh yêu cầu tính lãi suất theo mức lãi suất 1,2%/tháng và tại phiên họp và hòa giải bà tự nguyện điều chỉnh mức lãi suất yêu cầu bị đơn phải trả theo quy định của pháp luật là 0,83%/tháng.
Quá trình giải quyết bà yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông K' Sú, bà Ka M trả cho tôi 800.000.000đ tiền gốc và tiền lãi tạm tính từ ngày 14/10/2015 đến ngày 26/9/2025, làm tròn là 118 tháng với mức lãi suất 0,83%/tháng, thành tiền 783.520.000đ. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 1.583.520.000đ.
Tại phiên sơ thẩm bà chỉ yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông K' Sú, bà Ka M trả cho tôi 800.000.000đ tiền gốc và tiền lãi tạm tính từ ngày khởi kiện 22/7/2024 đến ngày 26/9/2025, làm tròn là 14 tháng với mức lãi suất 0,83%/tháng, thành tiền 92.960.000đ, tính tròn 92.000.000đ. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 892.000.000₫.
Bà cam kết ngoài khoản tiền 800.000.000₫ theo giấy vay tiền ngày 14/10/2015 thì từ đó đến nay vợ chồng K' Sú, Ka MHúp không còn nợ bà bất kỳ khoản nợ nào khác.
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông K' Sú, bà Ka MHúp nhưng ông K' Sú, bà Ka M không đến Tòa làm việc nên không tiến hành hòa giải được.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 84/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự tài sản” đối với ông K' Sú, bà Ka M, xử:
Buộc ông K' Sú, bà Ka M có trách nhiệm trả cho bà Đào Thị T số tiền 892.000.000₫ (Tám trăm chín mươi hai đồng), trong đó tiền nợ gốc chưa trả là 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng), tiền nợ lãi là 92.000.000đ (Chín mươi hai triệu đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành của các đương sự.
Ngày 13/10/2025, bị đơn ông K' Sú, bà Ka M kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm số: 84/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông K' Sú, bà Ka M giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông, bà.
Nguyên đơn bà T không kháng cáo và không đồng ý với kháng cáo của bị đơn ông K' Sú, bà Ka M đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa phúc thẩm; các đương sự đã thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông K' Sú, bà Ka M và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông K' Sú, bà Ka M thì thấy rằng:
[2.1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông K' Sú, bà Ka M thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2.2] Về nội dung: Theo giấy vay không có tựa đề ghi ngày 14/10/2015 thì ông K' Sú, bà Ka M có vay của bà T số tiền 800.000.000đ, không thỏa thuận thời hạn trả nợ và lãi suất. Nguyên đơn bà T khai hai bên có thỏa thuận miệng với nhau lãi suất là 1,5%/tháng, vào cuối năm trả tiền lãi và trong vòng 3 năm (tức đến ngày 14/10/2018) vợ chồng ông K' Sú, bà Ka M sẽ trả hết tiền gốc. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ 14/10/2018 vợ chồng ông K' Sú, bà Ka M vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà T không có tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc hai bên có thỏa thuận nội dung trên nên đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi, theo quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự, có nội dung phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự. Do ông K' Sú, bà Ka M vi phạm nghĩa vụ trả nợ ho bà T theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.
[2.3] Tại cấp sơ thẩm bị đơn ông K' Sú, bà Ka M không đến Tòa làm việc, không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả tiền cho bà T. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông K' Sú, bà Ka M phải có trách nhiệm trả cho bà T số tiền nợ gốc chưa trả là 800.000.000 đồng và tiền nợ lãi 92.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 892.000.000 đồng là có căn cứ.
[3] Bị đơn ông K' Sú, bà Ka M kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung của vụ án nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[4] Về án phí: Ông K' Sú, sinh năm 1961 và bà Ka M, sinh năm 1965 và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Nên cần sửa bản án sơ thẩm về phần án phí theo hướng không buộc ông K' Sú, bà Ka M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, án phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận kháng cáo của ông K' Sú, bà Ka M.
Sửa Bản án sơ thẩm số: 84/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự tài sản” đối với ông K' Sú, bà Ka M.
-
Buộc ông K' Sú, bà Ka M có trách nhiệm trả cho bà Đào Thị T số tiền 892.000.000 đồng, trong đó tiền nợ gốc chưa trả là 800.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 92.000.000 đồng.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền phải thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông K' Sú, bà Ka M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
-
Về án phí: Ông K' Sú, bà Ka M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Ông K' Sú, bà Ka M được nhận lại số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006606 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Hoàn trả cho bà Đào Thị T số tiền 24.900.000 đồng (Hai mươi bốn triệu chín trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sơ thẩm mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0004118 ngày 09/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Lâm Đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Bản án số 10/2026/DS-PT ngày 08/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 10/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm
