Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2026/DS-PT
Ngày 06-01-2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán xe

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Cường;
Các thẩm phán: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết;
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.

- Thư ký phiên toà: Ông Dương Văn Tùng - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1019/2025/TLPT-DS ngày 13/10/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán xe”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2025/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 6642/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 22444/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc Lâm S, sinh năm 1986; địa chỉ: số I khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    - Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị Anh T, sinh năm 1994; thường trú: tổ C, khu phố G, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc bà Trang Nguyễn Thảo V, sinh năm 2002; thường trú: tổ F, khu phố A, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: số F đường P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

  2. Bị đơn:

    1. Ông Võ Văn T1, sinh năm 1975; địa chỉ thường trú: số F khu phố H, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

    2. Ông Võ Trung T2, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: số A đường L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

2

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: ấp Q, xã T, tỉnh Đồng Nai, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ; vắng mặt.

    2. Ngân hàng TMCP B (nay là Ngân hàng TMCP L2); hội sở: L, B T, phường H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Đào Thế N, chức vụ: Giám đốc PGD KCN VSIP - Chi nhánh B1 hoặc ông Nguyễn Đức L1, chức vụ: Chuyên viên khách hàng; có mặt.

    3. Bà Dương Thị Thu N1, sinh năm 1988; địa chỉ: số I khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

  2. Người kháng cáo: nguyên đơn ông Lê Ngọc Lâm S và bị đơn ông Võ Trung T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông S là chủ sở hữu xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor, số máy YN2QX267375, số khung MPBUMFE60LX267375 sản xuất năm 2020 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe số 61021819 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 06/12/2021.

Ngày 28/12/2022, ông S bán xe ô tô trên cho ông Võ Trung T2 với giá 1.000.000.000 đồng, ông T2 đã trả cho ông S số tiền 300.000.000 đồng, do ông S đang thế chấp giấy chứng nhận đăng ký xe tại Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh B1 nên ông S với ông T2 thoả thuận: ông T2 sẽ thay ông S tiếp tục thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP B với số tiền 645.800.000 đồng, ông S bàn giao xe cho ông T2 vào ngày 28/12/2022. Việc mua bán hai bên làm giấy tay với nhau.

Sau đó, ông S biết giữa ông T2 và ông Võ Văn T1 phát sinh giao dịch khác, cụ thể ông T2 đã đổi chiếc xe trên cho ông T1 để nhận chiếc xe ô tô Mercedes GL550, giá trị chuyển đổi như sau: ông T2 định giá chiếc xe ô tô loại Ford Raptor biển số 61A-986.62 là 1.000.000.000 đồng, ông T1 định giá chiếc xe ô tô Mercedes GL550 là 600.000.000 đồng, do xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor vẫn còn nợ Ngân hàng số tiền 645.000.000 đồng nên ông T1 và ông T2 thoả thuận miệng nội dung ông T2 nhận xe Mercedes GL550, ông T1 nhận xe Ford Raptor, ông T2 thanh toán cho ông T1 số tiền 245.000.000 đồng tiền mặt (tiền chênh lệch giá xe), ông T1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền 645.000.000 đồng còn nợ cho Ngân hàng thay cho ông T2. Tuy nhiên, ông T1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 02 tháng tiền gốc và lãi. Hiện số tiền gốc và lãi ông S là người chịu trách nhiệm thanh toán, còn xe của ông S thì ông T1 là người quản lý, sử dụng.

Ngày 31/7/2023, ông S, ông T2 và ông T1 ký bản thoả thuận góp tiền để tất toán Hợp đồng tín dụng số HDTD26A202200033, thực tế việc ký này là do ông T1 hăm doạ ông S nếu không ký sẽ không thanh toán tiền lãi Ngân hàng. Việc ký văn bản này không có sự đồng ý của Ngân hàng nên không có giá trị pháp lý, ông T1 đóng số tiền 204.847.000 đồng thực tế là thanh toán phần tiền khi mua xe, không phải góp tất toán hợp đồng tín dụng, ông S là người nhận tiền. Do đó, ông S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • Tuyên bố hợp đồng mua bán xe ký ngày 28/12/2022 giữa Lê Ngọc Lâm S với ông Võ Trung T2 vô hiệu.

  • Huỷ bản thoả thuận ngày 31/7/2023 giữa ông Lê Ngọc Lâm S với ông Võ Văn T1 và ông Võ Trung T2.

  • Yêu cầu ông T2, ông T1 liên đới trả lại ông S chiếc xe ô tô biển số 61A-968.62. Trong trường hợp không trả được xe thì ông S yêu cầu ông T2 và ông T1 liên đới trả lại giá trị xe tương đương với số tiền còn nợ tại Ngân hàng 406.390.000 đồng.

  • Buộc ông T2 và ông T1 phải bồi thường thiệt hại do chiếm giữ tài sản, cụ thể: tiền đóng lãi Ngân hàng tạm tính từ ngày 15/8/2023 đến ngày 16/12/2024 là 116.221.000 đồng; tiền mua bảo hiểm xe là 10.198.000 đồng.

Tổng cộng: 533.597.000 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu Toà án triệu tập bà Lê Thị Ngọc T3 là vợ ông T1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

* Bị đơn ông Võ Văn T1 trình bày:

Ông T1 có quen biết ông T2. Tháng 4 năm 2023, ông T2 có nhu cầu mua xe ô tô Mercedes GL550 biển số 61K-119.33 của ông T1 với giá 600.000.000 đồng nên ông T1 đồng ý bán. Sau đó, ông T2 nói với ông T1 rằng ông T2 có chiếc xe ô tô loại Ford Raptor biển số 61A-986.62 mang tên Lê Ngọc Lâm S giá 1.000.000.000 đồng, tuy nhiên ông T2 cho biết xe đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh B1, số tiền ông T2 còn nợ Ngân hàng là 645.800.000 đồng nên giá trị chiếc xe Ford Raptor hiện chỉ còn 354.200.000 đồng. Do đó, ông T2 đề nghị cho ông T1 đổi lấy chiếc xe Ford Raptor trên để ông T2 lấy xe ô tô Mercedes GL550. Ông T1 đồng ý, ông T2 phải thanh toán số tiền mua xe ô tô Mercedes GL550 còn lại là 245.800.000 đồng và ông T1 đã nhận đủ tiền. Theo thoả thuận, ông T1 có trách nhiệm trả góp số tiền thế chấp chiếc xe Ford Raptor là 645.800.000 đồng cho Ngân hàng, ông T1 đã góp được 03 tháng là 54.900.000 đồng chuyển qua tài khoản của ông T2 để ông T2 trả cho Ngân hàng.

Ngày 16/4/2024, ông T1 bán xe Ford Raptor cho ông Nguyễn Đình L, theo thoả thuận ông L phải có trách nhiệm thay ông T1 trả góp cho Ngân hàng số tiền còn nợ 634.580.000 đồng. Tuy nhiên, ông T1 nhiều lần liên hệ ông L để yêu cầu ông L trả tiền cho Ngân hàng, nhưng không liên lạc được. Hiện ông L đang bị bắt giam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ông L chưa trả tiền cho Ngân hàng và ông T1 không biết xe Ford Raptor hiện đang ở đâu.

Ngày 31/7/2023, ông T1 với ông S, ông T2 ký kết bản thoả thuận về việc góp tiền để tất toán Hợp đồng tín dụng số HDTD26A202200033, cụ thể: ông S đồng ý góp 204.847.000 đồng, ông T2 đồng ý góp 204.847.000 đồng, ông T1 đồng ý góp 204.847.000 đồng; ngoài ra, ông S còn yêu cầu ông T1 chuyển thêm số tiền lãi Ngân hàng chênh lệch là 4.000.000 đồng, ông T1 đã góp đủ số tiền 208.847.000 đồng cho ông S vào tài khoản của Ngân hàng. Do đó, trước yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của ông S thì ông T1 không đồng ý. Việc tranh chấp giữa ông S với ông T1 và ông T2 là chuyện làm ăn cá nhân, ông T1 dùng tiền cá nhân để mua bán xe nên ông T1 đề nghị Toà án không đưa vợ ông T1 là bà Lê Thị Ngọc T3 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đối với việc mua bán xe giữa ông T1 với ông L thì ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

* Tại văn bản ngày 02/01/2025, ngày 02/7/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Võ Trung T2 trình bày:

Ông T2 là người kinh doanh mua bán xe, biết ông S có nhu cầu bán xe nên ngày 28/12/2022, giữa ông T2 với ông S có thoả thuận: ông S bán xe ô tô loại Ford Raptor biển số 61A-986.62 mang tên Lê Ngọc Lâm S với giá 1.000.000.000 đồng, thời điểm này vợ chồng ông S đang thế chấp xe tại Ngân hàng nên ông T2 trả trước cho ông S số tiền 300.000.000 đồng, số tiền ông S còn nợ Ngân hàng khoảng 687.480.000 đồng sẽ được ông T2 thanh toán dần hàng tháng qua Ngân hàng.

Sau khi nhận xe, ông T2 đã đổi chiếc xe trên cho ông Võ Văn T1 (cũng là dân mua xe bán) để lấy chiếc xe ô tô Mercedes GL550, biển số 61K-119.33 với giá chuyển đổi như sau: xe ô tô loại Ford Raptor biển số 61A-986.62 là 1.000.000.000 đồng; xe ô tô Mercedes GL550, biển số 61K-119.33 là 600.000.000 đồng; do xe ô tô loại Ford Raptor biển số 61A-986.62 đang nợ Ngân hàng nên ông T2 với ông T1 thoả thuận miệng ông T2 nhận xe ô tô Mercedes GL550, biển số 61K-119.33, ông T1 nhận xe ô tô loại Ford Raptor biển số 61A-986.62, ông T2 thanh toán cho ông T1 số tiền 245.000.000 đồng (tiền chênh lệch trị giá xe), ông T1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thay cho ông T2. Sau khi nhận xe, ông T1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 02 tháng tiền gốc và lãi, nhưng xe ô tô loại Ford Raptor ông T1 vẫn quản lý, sử dụng.

Ngày 31/7/2023, giữa ông T2, ông T1 và ông S có ký bản thoả thuận góp tiền để tất toán Hợp đồng tín dụng số HDTD26A202200033, thực tế việc ký bản thoả thuận này là do ông T1 điện thoại hăm doạ nếu không ký thì ông T1 sẽ không tiếp tục thanh toán tiền lãi Ngân hàng, việc ký văn bản thoả thuận này không được sự đồng ý của Ngân hàng nên không có giá trị pháp lý. Số tiền 204.847.000 đồng thực chất là số tiền ông T1 thanh toán phần tiền còn lại khi mua xe chứ không phải tiền tất toán hợp đồng tín dụng như đã ký. Do ông T1 là người đang quản lý, sử dụng xe nên ông T1 phải có trách nhiệm trả lại chiếc xe ô tô Ford Raptor trên để ông T2 trả lại xe cho ông S. Trường hợp ông T1 làm mất xe thì ông T1 phải bồi thường giá trị xe theo yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông S, ông Tín C đồng ý tuyên vô hiệu hợp đồng mua bán xe. Ông T2 không yêu cầu Toà án triệu tập bà Lê Thị Ngọc T3 là vợ ông T1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

* Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP B (gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:

Ông S và bà N1 có vay của Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh B1 số tiền 750.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD 26A202200033 với mục đích vay tiêu dùng; quá trình thực hiện hợp đồng, ông S trả không đúng hạn. Tạm tính đến ngày 28/4/2025, còn nợ Ngân hàng số tiền 489.106.360 đồng, lãi trong hạn 50.327.179 đồng, phạt chậm trả 7.208.066 đồng, lãi nợ quá hạn 1.785.361 đồng, tổng cộng: 548.426.966 đồng. Ông S và bà N1 có thế chấp cho Ngân hàng xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor số máy YN2QX267375, số khung MPBUMFE60LX267375 sản xuất năm 2020 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe số 61021819 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 06/12/2021, đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng chứng nhận 03/6/2022. Trước yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của ông S, Ngân hàng đề nghị Toà án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết, Ngân hàng sẽ khởi kiện ông S thành vụ kiện khác nếu ông S không trả tiền cho Ngân hàng, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

* Tại Văn bản ngày 02/7/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Thu N1 trình bày:

Bà N1 là vợ ông Lê Ngọc Lâm S. Ông S là chủ sở hữu xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor. Ngày 06/12/2021, vợ chồng ông S, bà N1 có ký Hợp đồng thế chấp xe ô tô số HĐTC26A202222 với Ngân hàng. Toàn bộ các giao dịch phát sinh đối với chiếc xe ô tô trên, bà N1 không rõ, bà N1 thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông S, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/02/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình L trình bày:

Ông Lập là người kinh doanh mua bán xe nên ông L và ông T1 (tên gọi khác là T4) là anh em quen biết nhau ngoài xã hội, ông L không biết ông S và ông T2. Khoảng giữa tháng 4 năm 2024, ông L và ông T1 có thoả thuận như sau: ông T1 bán cho ông L chiếc xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor với giá 1.020.000.000 đồng, thời điểm này ông L biết xe đứng tên ông S và đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP B, hiện đang nợ Ngân hàng số tiền khoảng 687.480.000 đồng. Ông L đã trả cho cho T1 số tiền không rõ từ 400.000.000 đồng đến 450.000.000 đồng, số tiền còn lại ông L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng mỗi tháng 15.000.000 đồng cho đến khi hết nợ; việc mua bán với ông T1 chỉ làm giấy tay. Hiện nay, giấy mua bán ông L không còn giữ. Sau khi mua xe ô tô trên từ ông T1, ông L đã bán xe trên cho người khác với giá 1.050.000.000 đồng, hiện nay không xác định được họ tên, địa chỉ để cung cấp cho Toà án. Ông L và người này cũng thoả thuận họ sẽ tiếp tục đóng tiền cho Ngân hàng như thoả thuận giữa ông L với ông T1. Do đó, trước yêu cầu khởi kiện của ông S, ông L không có ý kiến gì vì đây là chuyện mua bán của các ông với nhau, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với việc mua bán giữa ông L với ông T1, đề nghị Toà án không giải quyết trong vụ này để ông L tác động và báo gia đình thu xếp trả lại tiền còn thiếu cho ông T1. Hiện nay, ông L đang bị bắt giam nên đề nghị được giải quyết vắng mặt.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 03/7/2025, người làm chứng ông Đỗ Bá H trình bày:

Ông H là người kinh doanh xe nên ông H có biết các ông T1, T2 và S. Sự việc tranh chấp giữa ông S, ông T1 và ông T2 thì ông T2 có đăng trên facebook cá nhân của ông T2 nên ông H biết sơ. Ngày 31/7/2023, các ông T1, T2 và S có hẹn gặp nhau tại quán cà phê nhà ông S ở địa chỉ số I khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) nên ông T1 có rủ ông H đi uống cà phê cùng. Khi ngồi chung xe thì ông T1 có cho ông H xem nội dung biên bản thoả thuận (về việc góp tiền để tất toán Hợp đồng tín dụng số HDTD26A202200033), không nhớ đã thể hiện ngày tháng hay chưa. Ông H có xem nội dung thể hiện ông S bán xe cho ông T2, ông T2 bán xe cho ông T1 và số tiền còn nợ Ngân hàng, các ông thoả thuận chia số tiền nợ Ngân hàng ra làm 03 phần, mỗi người góp 01 phần để lấy giấy tờ xe ra. Khi vào uống cà phê, các ông có ký tên lăn tay xong và nhờ ông H ký tên vào tư cách người làm chứng, ông H thấy cũng không liên quan gì nên ông H có ký tên, ghi rõ họ tên vào người làm chứng. Tại thời điểm này, ông H thấy mọi người vui vẻ ký tên, không cãi nhau, nếu có cãi nhau thì ông H đã không ký tên với tư cách người làm chứng, ông H có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2025/DS-ST ngày 29-7-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

“1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc Lâm S về việc yêu cầu tuyên vô hiệu đối với giao dịch mua bán xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor với ông Võ Trung T2. Tuyên hợp đồng mua bán xe ngày 28/12/2022 giữa ông Lê Ngọc Lâm S với ông Võ Trung T2 là vô hiệu.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Lê Ngọc Lâm S về việc thanh toán giá trị xe đối với ông Võ Trung T2. Buộc ông Võ Trung T2 có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Ngọc Lâm S số tiền theo thoả thuận là 204.847.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Lê Ngọc Lâm S về việc tuyên vô hiệu đối với biên bản thoả thuận (về việc góp tiền để tất toán Hợp đồng tín dụng số HDTD26A202200033) lập ngày 31/7/2023 giữa ông Lê Ngọc Lâm S, ông Võ Trung T2 và ông Võ Văn T1.

4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Lê Ngọc Lâm S về việc thanh toán giá trị xe đối với ông Võ Văn T1.

5. Tuyên giao dịch mua bán xe giữa ông Võ Trung T2 với ông Võ Văn T1 đối với xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor là vô hiệu”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 07/8/2025, nguyên đơn ông Lê Ngọc Lâm S kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S.

Ngày 11/8/2025, bị đơn Võ Trung T2 kháng cáo yêu cầu sửa bản án theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc Lâm S và buộc ông Võ Văn T1 phải có trách nhiệm trả lại xe hoặc trong trường hợp không thể trả lại xe thì ông Võ Văn T1 phải là người thanh toán giá trị tương đương.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông S và bị đơn ông T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới và không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, nhận thấy: giao dịch mua bán xe giữa ông S với ông T2, giữa ông T2 với ông T1, giữa ông T1 với ông L và giữa ông L với người khác là vô hiệu nên Bản thoả thuận ngày 31/7/2023 giữa ông S với ông T1, ông T2 cũng vô hiệu theo; Tòa án cấp sơ thẩm công nhận thỏa thuận 03 bên tại Bản thoả thuận ngày 31/7/2023 giữa ông S với ông T1, ông T2 là không có căn cứ; do công nhận hiệu lực của Bản thoả thuận ngày 31/7/2023 nên Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không đúng quy định; đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm chưa tiến hành định giá xe để làm căn cứ bồi thường. Do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân Khu vực 16 để giải quyết lại theo thủ tục chung. Về kiến nghị, khắc phục thiếu sót không có.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hướng giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán xe”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Ngọc Lâm S (gọi tắt là ông S) và đơn kháng cáo của bị đơn ông Võ Trung T2 (gọi tắt là ông T2) được thực hiện trong thời hạn luật định và người kháng cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông S, nhận thấy: ngày 02/6/2022, ông S và vợ là bà Dương Thị Thu N1 ký kết Hợp đồng tín dụng số HĐTD26A202200033 với Ngân hàng TMCP B (nay là Ngân hàng TMCP L2) để vay số tiền 750.000.000 đồng, để đảm bảo cho khoản vay này, ông S và bà N1 đã thế chấp chiếc xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor cho Ngân hàng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm. Các bên tham gia giao dịch mua bán xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor biết rõ xe ô tô biển số 61A-986.62 đang thuộc tài sản thế chấp tại Ngân hàng, nhưng vẫn thực hiện giao dịch khi không được sự đồng ý bằng văn bản của Ngân hàng là vi phạm khoản 8 Điều 320 Bộ luật Dân sự. Do đó, việc ông S bán xe cho ông T2, ông T2 bán cho ông T1, ông T1 bán xe lại cho ông L là vô hiệu theo quy định tại các Điều 117, 120, 122, 131 và 320 Bộ luật Dân sự. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường, do lỗi dẫn đến các giao dịch dân sự nêu trên vô hiệu của các bên đương sự là như nhau nên phải chịu hậu quả pháp lý như nhau. Vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự thì “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả”. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận đã bán xe, giao xe, nhận xe, nhận tiền và xe hiện nay các bên không rõ xe do ai quản lý, không rõ họ tên người quản lý và địa chỉ ở đâu. Vì vậy, cần buộc ông T2 phải hoàn trả lại giá trị xe cho ông S. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã hướng dẫn các đương sự làm thủ tục định giá xe, nhưng các đương sự không yêu cầu nên Toà án không thực hiện là phù hợp. Việc ông S yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán xe ký ngày 28/12/2022 giữa ông S với ông T2 vô hiệu là có căn cứ.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông S về việc hủy “bản thoả thuận ngày 31/7/2023 giữa ông Lê Ngọc Lâm S với ông Võ Văn T1, ông Võ Trung T2” nhận thấy: các bên đương sự đều thừa nhận ngày 31/7/2023, ông T1, ông T2 và ông S lập bản thoả thuận (về việc góp tiền để tất toán Hợp đồng tín dụng số HDTD26A202200033) với nội dung: ông S đồng ý góp 204.847.000 đồng, ông T2 đồng ý góp 204.847.000 đồng; ông T1 đồng ý góp 204.847.000 đồng, hình thức góp chuyển khoản qua tài khoản số 0987705507 của Lê Ngọc Lâm S tại Ngân hàng TMCP Q (tất toán Ngân hàng để lấy giấy đăng ký xe ra). Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của ông S xác nhận: ông T1 đã gửi vào tài khoản của ông S số tiền 204.847.000 đồng và 4.000.000 đồng tiền lãi. Nguyên đơn ông S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T2 cho rằng: do ông T1 hăm doạ buộc các ông phải ký bản thỏa thuận, chứng cứ ông S cung cấp là file ghi âm, nhưng việc ghi âm không có sự đồng ý của ông T1 nên theo quy định tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự là không hợp pháp nên không có cơ sở để xem xét. Tuy nhiên, theo như đã nêu tại mục [3] thì giao dịch mua bán xe giữa ông S với ông T2, giữa ông T2 với ông T1, giữa ông T1 với ông L và giữa ông L với người khác là vô hiệu nên việc thoả thuận 03 bên giữa ông Lê Ngọc Lâm S với ông Võ Văn T1, ông Võ Trung T2 tại Bản thoả thuận ngày 31/7/2023 cũng vô hiệu theo. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của ông S là chưa phù hợp nên kháng cáo của ông S về phần này là có căn cứ.

[5] Đối với số tiền 204.847.000 đồng và 4.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 208.847.000 đồng mà ông T1 đã chuyển vào tài khoản số 0987705507 của Lê Ngọc Lâm S tại Ngân hàng TMCP Q theo Biên bản thoả thuận (về việc góp tiền để tất toán Hợp đồng tín dụng số HDTD26A202200033) lập ngày 31/7/2023 giữa ông S, ông T2 và ông T1; nếu sau này ông T1 có đơn khởi kiện tranh chấp với ông S sẽ được Tòa án xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác (khi có yêu cầu).

[6] Xét yêu cầu khởi kiện của ông S về việc buộc ông T1 và ông T2 phải liên đới trả lại giá trị chiếc xe ô tô biển số xe 61A-968.62, trường hợp không trả được xe thì phải hoàn trả lại bằng giá trị tương đương số tiền còn nợ tại Ngân hàng là 406.390.000 đồng, nhận thấy: sau khi giao dịch mua bán chiếc xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor, số máy YN2QX267375, số khung MPBUMFE60LX267375 sản xuất năm 2020 cho ông Võ Trung T2 với giá thỏa thuận là 1.000.000.000 đồng, ông T2 đã trả cho ông S số tiền 300.000.000 đồng, do xe đang thế chấp giấy chứng nhận đăng ký xe tại Ngân hàng nên ông S với ông T2 đã thoả thuận: ông T2 sẽ thay ông S tiếp tục thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc 645.800.000 đồng và tiền lãi cho Ngân hàng TMCP B, ông S đã giao xe cho ông T2 vào ngày 28/12/2022. Quá trình giải quyết vụ án, ông T2 cho rằng đã đóng tiền cho Ngân hàng hơn 100.000.000 đồng, nhưng ông T2 không cung cấp được chứng cứ để chứng minh nên không có căn cứ để xem xét. Theo như đã nêu tại mục [3] thì giao dịch mua bán xe giữa ông S với ông T2 là vô hiệu và hiện nay xe không rõ do ai đang quản lý, sử dụng nên ông T2 phải có trách nhiệm thanh toán lại giá trị xe cho ông S, tương ứng với số tiền 645.800.000 đồng còn nợ Ngân hàng TMCP B (nay là Ngân hàng TMCP L2) tại thời điểm hai bên giao dịch. Tuy nhiên, theo đơn khởi kiện thì ông S chỉ yêu cầu ông T2 và ông T1 liên đới trả lại cho ông S chiếc xe ô tô biển số 61A-968.62; trường hợp không trả được xe thì yêu cầu ông T2 và ông T1 liên đới trả lại giá trị xe tương đương số tiền còn nợ tại Ngân hàng là 406.390.000 đồng; xét đây là sự tự nguyện của ông S, không trái pháp luật nên ghi nhận.

[7] Xét yêu cầu về việc buộc ông T2 và ông T1 phải bồi thường thiệt hại do chiếm giữ tài sản, cụ thể: đóng tiền lãi Ngân hàng tạm tính từ ngày 15/8/2023 đến ngày 16/12/2024 là 116.221.000 đồng, tiền mua bảo hiểm xe 10.198.000 đồng, nhận thấy: giao dịch vay số tiền 750.000.000 đồng tại Ngân hàng và thế chấp chiếc xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor cho Ngân hàng là giao dịch giữa vợ chồng ông S, bà N1 với Ngân hàng. Ông S biết rõ xe ô tô biển số 61A-968.62 là tài sản thế chấp cho Ngân hàng nhưng vẫn tiến hành giao dịch mua bán với ông T2 nên ông S phải gánh chịu hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Do đó, ông S và bà N1 phải có trách nhiệm thanh toán nợ gốc và lãi suất phát sinh cho Ngân hàng theo như đã thỏa thuận tại tại Hợp đồng tín dụng số HĐTD26A202200033 ngày 02/6/2022 với Ngân hàng TMCP B (nay là Ngân hàng TMCP L2) cho đến khi thanh toán hết nợ. Việc ông S yêu cầu ông T2 và ông T1 phải bồi thường số tiền đóng tiền lãi cho Ngân hàng tạm tính từ ngày 15/8/2023 đến ngày 16/12/2024 là 116.221.000 đồng và tiền mua bảo hiểm xe 10.198.000 đồng; tổng cộng 126.419.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận.

[8] Xét yêu cầu kháng cáo của ông T2 về việc buộc ông T1 phải có trách nhiệm trả lại xe hoặc trường hợp không thể trả lại xe thì phải thanh toán giá trị xe tương đương cho ông S, nhận thấy: sau khi nhận xe từ ông S, ông T2 đã đổi xe trên cho ông Võ Văn T1 để lấy chiếc xe ô tô Mercedes GL550, biển số 61K-119.33 với giá chuyển đổi như sau: ô tô loại Ford Raptor biển số 61A-986.62 là 1.000.000.000 đồng; ô tô loại Mercedes GL550, biển số 61K-119.33 là 600.000.000 đồng; do xe ô tô loại Ford Raptor biển số 61A-986.62 đang thế chấp tại Ngân hàng nên ông T2 với ông T1 thoả thuận miệng là ông T2 nhận xe ô tô loại Mercedes GL550, biển số 61K-119.33; ông T1 nhận xe ô tô loại Ford Raptor biển số 61A-986.62; ông T2 thanh toán cho ông T1 số tiền 245.000.000 đồng (tiền chênh lệch giá trị xe), ông T1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng thay cho ông T2 và hai bên đã tiến hành bàn giao xe cho nhau quản lý, sử dụng; sau đó, ông T1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 02 tháng tiền gốc và lãi rồi bán xe ô tô loại Ford Raptor lại cho ông L; nên số tiền nợ gốc còn lại tại Ngân hàng theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp cho Ngân hàng thì tạm tính đến ngày 28/4/2025, ông S còn nợ Ngân hàng số tiền gốc 489.106.360 đồng, lãi trong hạn 50.327.179 đồng, phạt chậm trả 7.208.066 đồng, lãi nợ quá hạn 1.785.361 đồng, tổng cộng là 548.426.966 đồng. Xét thấy, giao dịch mua bán, trao đổi xe ô tô loại Ford Raptor với xe ô tô loại Mercedes GL550 là giao dịch giữa cá nhân ông T2 với ông T1, không liên quan đến ông S. Trường hợp sau này, giữa ông T2 với ông T1, giữa ông T1 với ông L và giữa ông L với người khác có khởi kiện tranh chấp đối với giao dịch mua bán xe ô tô loại Ford Raptor, biển số 61A-986.62 sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác. Vì vậy, không có căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông T2. Xét quá trình giải quyết vụ án, ông T2 không có đơn phản tố yêu cầu ông T1 phải có trách nhiệm trả lại trị giá chiếc xe ô tô loại Ford Raptor cho ông S, không nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại “Tuyên giao dịch mua bán xe giữa ông Võ Trung T2 với ông Võ Văn T1 đối với xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor là vô hiệu”, nhưng không giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu là không phù hợp.

[9] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực nên trong phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

[10] Từ những phân tích và lập luận nêu trên, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông S; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông T2; sửa một phần bản án sơ thẩm theo như đã phân tích tại mục [4] và [6] nêu trên. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về những thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp nên chấp nhận, nhưng việc đề nghị hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết lại là chưa phù hợp.

[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: do Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, 120, 122, 131 và 320 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Ngọc Lâm S; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Trung T2.

    Sửa một phần Bản án số 34/2025/DS-ST ngày 29-7-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc Lâm S về việc yêu cầu tuyên giao dịch mua bán xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor với ông Võ Trung T2 vô hiệu.

      Tuyên hợp đồng mua bán xe ngày 28/12/2022 giữa ông Lê Ngọc Lâm S với ông Võ Trung T2 là vô hiệu.

    2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Lê Ngọc Lâm S về việc thanh toán giá trị xe đối với ông Võ Trung T2.

      Buộc ông Võ Trung T2 có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Ngọc Lâm S giá trị xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor số tiền 406.390.000 đồng.

      Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Lê Ngọc Lâm S về việc tuyên vô hiệu đối với Biên bản thoả thuận (về việc góp tiền để tất toán Hợp đồng tín dụng số HDTD26A202200033) lập ngày 31/7/2023 giữa ông Lê Ngọc Lâm S, ông Võ Trung T2 và ông Võ Văn T1. Tuyên Biên bản thoả thuận (về việc góp tiền để tất toán Hợp đồng tín dụng số HDTD26A202200033) lập ngày 31/7/2023 giữa ông Lê Ngọc Lâm S, ông Võ Trung T2 và ông Võ Văn T1 vô hiệu.

    4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Lê Ngọc Lâm S về việc buộc ông Võ Văn T1 thanh toán giá trị xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor.

    5. Tách các giao dịch mua bán xe ô tô biển số 61A-986.62 loại Ford Raptor giữa ông Võ Trung T2 với ông Võ Văn T1, giữa ông Võ Văn T1 với ông Nguyễn Đình L và giữa ông L với người khác để giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

    6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Ông Võ Trung T2 phải chịu 300.000 đồng án phí đối với giao dịch mua bán xe ô tô biển số 61A-986.62 bị tuyên vô hiệu.

      Ông Võ Trung T2 phải chịu 20.255.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán.

      Ông Lê Ngọc Lâm S phải chịu 6.360.350 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 127.207.000 đồng không được chấp nhận, được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng và số tiền 12.972.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009629 ngày 02/12/2024 và số 0000640 ngày 10/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 16). Hoàn trả cho ông Lê Ngọc Lâm S số tiền tạm ứng án phí còn lại là 7.211.650 đồng.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Lê Ngọc Lâm S và ông Võ Trung T2 không phải chịu. Hoàn trả cho ông Lê Ngọc Lâm S 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009107 ngày 14/8/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; hoàn trả cho ông Võ Trung T2 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009024 ngày 13/8/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- Các đương sự (7);

- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;

- TAND Khu vực 16 – Tp. HCM;

- Phòng THADS Khu vực 16;

- Lưu: VT, Tổ HCTP, hồ sơ vụ án (15), (56).

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đắc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2026/DS-PT ngày 06/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán xe

  • Số bản án: 10/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán xe
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng mua bán xe
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger