Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/DS-ST

Ngày: 26-3-2025

“V/v tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất và Hợp

đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Phi Hùng
  2. Ông Lê Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2022/TLST- DS ngày 19 tháng 12 năm 2022, về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 20/2025/QĐST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Phúc, sinh năm 1981; trú tại: ấp An Ninh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Người đại diện hợp pháp: Anh Lê Văn Tấn, sinh năm 1988; trú tại: ấp Mỹ Phước 2, xã Mỹ Hòa, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày 03 tháng 4 năm 2023). (có mặt)

    - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Trần Ngọc Tiến – Công ty Luật Trần Tiến thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

    Địa chỉ: Số nhà 27, đường Phạm Thái Bường, Phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ, sinh năm 1962; trú tại: ấp An Ninh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Hồ Kim Màng, sinh năm 1958; trú tại: ấp An Ninh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
  5. Người đại diện hợp pháp: Chị Phan Thị Bé Tư, sinh năm 1985; trú tại số 45, Lô A KDC Cao Bá Quát, khóm Hoà Khánh, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (Văn bản ủy quyền ngày 07 tháng 12 năm 2023). (có mặt)

    - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Luật sư: Lê Thị Vân Lan – Văn phòng Luật sư Lê Lan – thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp, là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hồ Kim Màng. (có mặt)

    Địa chỉ: Số 37/4B, khóm Hoà An, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

  6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Lệ, sinh năm 1963; trú tại: ấp An Ninh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. (có đơn xin vắng mặt)
    2. Chị Nguyễn Thị Mỹ Nhung, sinh năm 1984; (có đơn xin vắng mặt)
    3. Chị Nguyễn Thị Mỹ Sương, sinh năm 1986; (có đơn xin vắng mặt)
    4. Chị Nguyễn Thị Mỹ Nương, sinh năm 1991; cùng trú tại: ấp An Ninh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. (có đơn xin vắng mặt)
    5. Ông Nguyễn Văn Tấn, sinh năm 1959; trú tại: ấp An Ninh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
    6. Chị Bùi Thị Hồng Tươi, sinh năm 1985;
    7. Nguyễn Kha, sinh năm 2011;
    8. Nguyễn Hưng, sinh năm 2015; cùng trú tại: ấp An Ninh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Kha, Nguyễn Hưng: Anh Nguyễn Văn Phúc, sinh năm 1981 và chị Bùi Thị Hồng Tươi, sinh năm 1985 (cha mẹ ruột); cùng trú tại: ấp An Ninh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo uỷ quyền của anh Phúc, chị Tươi: Anh Lê Văn Tấn, sinh năm 1988; trú tại: ấp Mỹ Phước 2, xã Mỹ Hòa, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày 03 tháng 4 năm 2023 và ngày 16 tháng 12 năm 2024). (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, anh Nguyễn Văn Phúc - người đại diện theo uỷ quyền anh Lê Văn Tấn trình bày:

Năm 2000, anh Nguyễn Văn Phúc có thoả thuận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ và bà Nguyễn Thị Lệ diện tích đất 1.000m² (loại đất trồng cây lâu năm) giá là 20 chỉ vàng 24K. Sau khi thoả thuận thì ông Tới Nhỏ đã giao đất cho anh Phúc sử dụng từ năm 2000 và anh Phúc đã trả đủ số vàng cho ông Tới Nhỏ. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng ông Tới Nhỏ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã thế chấp vay tiền Ngân hàng nên không làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Việc thoả thuận chuyển nhượng có làm giấy tay nhưng đã thất lạc. Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của anh Phúc xác định “Giấy tay thoả thuận chuyển nhượng đất năm 2000 và được ông Nguyễn Thành Dũng (trưởng ấp) xác nhận ngày 02/6/2009” là giấy thoả thuận chuyển nhượng đất duy nhất. Đồng thời, tại thời điểm này, ông Tới Nhỏ đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Phúc giữ. Năm 2020, anh Phúc có yêu cầu ông Tới Nhỏ đi làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định nhưng ông Tới Nhỏ không đồng ý, sau đó anh Phúc có yêu cầu ông Tới Nhỏ đi làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hộ ông Tới Nhỏ được Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 19/02/2021 đối với thửa số 17, tờ nản đồ số 12, diện tích 1.346m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm (hiện tại anh Phúc đang giữ bản chính giấy chứng nhận QSD đất nêu trên).

Anh Nguyễn Văn Phúc yêu cầu ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Tờ thỏa thuận sang nhượng đất từ năm 2000 và được ông Nguyễn Thành Dũng (trưởng ấp) xác nhận ngày 02/6/2009, chuyển quyền cho anh Phúc được quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất 1.000m² (đo đạc thực tế 1.081,5m² gồm các mốc 1-2-3-4-5-6 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành) thuộc một phần thửa số 16, diện tích 557,8m² (gồm các mốc 1-2-3-6-1), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 21/10/2010 cho bà Hồ Kim Màng và một phần thửa 17, diện tích 523,7m² (gồm các mốc 3-4-5-6-3) cùng tờ bản đồ số 12. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 19/02/2021 cho hộ ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ.

Đối với yêu cầu độc lập của bà Hồ Kim Màng thì anh Nguyễn Văn Phúc có ý kiến như sau:

Thực tế ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ đã chuyển đổi diện tích đất cho bà Hồ Kim Màng đang sử dụng, theo đo đạc thực tế có diện tích là 445m² gồm các mốc 1-2-3-9-1, thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành. Vì vậy, anh Phúc không đồng ý trả lại diện tích đất 557,8m² (gồm các mốc 1-2-3-6-1) cho bà Hồ Kim Màng. Trường hợp phải trả lại diện tích đất trên cho bà Màng thì yêu cầu bà Màng phải trả lại giá trị căn nhà và cây trồng trên đất theo giá của Hội đồng định giá đã định. Đồng thời yêu cầu bà Màng bồi thường thêm 50.000.000 đồng chi phí sang lắp, tôn tạo đất. Trong trường hợp trên thì anh Phúc yêu cầu ông Thới Nhỏ giao diện tích đất đã đổi cho bà Màng là 445m² gồm các mốc 1-2-3-9-1, thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành để anh Phúc sử dụng và không yêu cầu gì đối với ông Thới Nhỏ.

Trường hợp anh Phúc được công nhận diện tích đất 557,8m² (gồm các mốc 1-2-3-6-1) thì anh Phúc không đồng ý yêu cầu của bà Màng đòi anh trả 400.000.000 đồng.

Bị đơn, ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà trình bày:

Năm 2000, ông có thoả thuận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Tấn (cha ruột của anh Nguyễn Văn Phúc) diện tích đất 1.000m², loại đất trồng cây lâu năm, (đo đạc thực tế 1.081,5m² gồm các mốc 1-2-3-4-5-6 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành) với giá là 20 chỉ vàng 24K. Sau khi chuyển nhượng thì ông đã giao đất cho ông Tấn sử dụng từ năm 2000 và ông Tấn đã trả đủ số vàng cho ông. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì ông Nguyễn Văn Tấn không đi làm thủ tục chuyển nhượng mà để kéo dài. Đồng thời phần đất trên ông Tấn đã giao cho anh Phúc sử dụng. Năm 2022, anh Phúc yêu cầu ông làm thủ tục chuyển nhượng ông không đồng ý, vì ông bán đất cho ông Tấn (cha anh Phúc). Khi chuyển nhượng đất cho ông Tấn ông có làm giấy tay giao cho ông Tấn giữ, còn giấy giấy tay thoả thuận chuyển nhượng đất và được ông Nguyễn Thành Dũng (trưởng ấp) xác nhận ngày 02/6/2009 của anh Phúc cung cấp thì ông xác định không phải chữ ký của ông. Đối với bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 17, tờ bản đồ số 12 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 19/02/2021 cho hộ ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ thì Nguyễn Văn Phúc đang giữ.

Nay ông đồng ý chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Tấn diện tích đất đo đạc thực tế 1.081,5m² gồm các mốc 1-2-3-4-5-6 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành. Trường hợp ông Tấn đồng ý để cho anh Phúc sử dụng diện tích đất trên thì tuỳ Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, ông không có ý kiến.

Đối với yêu cầu độc lập của bà Hồ Kim Màng thì ông có ý kiến như sau:

Năm 2000 ông Hải (chồng bà Màng và là anh ruột của ông) có thoả thuận chuyển đổi đất với ông. Hai bên thoả thuận chuyển đổi 500m² nhưng khi giao đất thì không đo đạc cụ thể. Theo đó, ông đã giao cho ông Hải sử dụng từ năm 2000, diện tích đo đạc thực tế là 445m² gồm các mốc 1-2-3-9-1, thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành. Còn phần đất ông Hải đổi cho ông, ông đã bán cho ông Tấn và là tại vị trí đất anh Phúc đang sử dụng hiện nay có diện tích 557,8m² (gồm các mốc 1-2-3-6-1), thuộc một phần thửa số 16, tờ bàn đồ 12, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 21/10/2010 cho bà Hồ Kim Màng.

Nay ông đồng ý thực hiện thủ tục chuyển đổi diện tích đất trên cho bà Màng. Đối với việc bà Màng yêu cầu ông Tấn và anh Phúc trả lại diện tích 557,8m² (gồm các mốc 1-2-3-6-1) thì ông không có ý kiến tuỳ Toà án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Hồ Kim Màng- người đại diện theo ủy quyền chị Phan Thị Bé Tư có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà trình bày:

Bà Hồ Kim Màng được Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 16, tờ bàn đồ 12, diện tích cấp giấy 1.619,9m², cấp ngày 21/10/2010 trên cơ sở được thừa kế của chồng là ông Nguyễn Thanh Hải (năm 2009 ông Hải chết). Việc ông Hải chuyển đổi đất với ông Tới Nhỏ thì bà không biết, vì bà có đi ở Đài Loan 01 thời gian, năm 2012 khi về thì mới biết. Tại phiên toà, đại diện bà màng xác định: năm 2017 bà màng mới biết anh Phúc sử dụng diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà nên đã làm hàng rào lưới B 40 ngăn cách với phần đất anh Phúc sử dụng với lý do sợ anh Phúc lấn chiếm thêm phần đất còn lại của bà Màng. Diện tích đo đạc thực tế là 445m² gồm các mốc 1-2-3-9-1, thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành thực tế sau khi ông Hải chết thì bà Màng tiếp tục sử dụng đến nay.

Bà Hồ Kim Màng yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Hải và ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ. Theo đó yêu cầu, ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ, ông Nguyễn Văn Phúc và những người đang ở trên đất (vợ, con ông Phúc) phải di dời tài sản trên đất để trả lại phần đất diện tích 557,8m², theo các mốc 1-2-3-4-6 của Sơ đồ đo đạc ngày 05/9/2023 thuộc một phần thửa số 16, tờ bản đồ 12, diện tích cấp giấy 1.619,9m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành cấp ngày 21/10/2010 cho bà Hồ Kim Màng.

Bà Hồ Kim Màng đồng ý giao trả cho ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ diện tích 445m² thuộc một phần thửa 17, tờ bản đồ 12 do chồng bà là ông Nguyễn Thanh Hải chuyển đổi với ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ.

Đối với diện tích đất ông Tới Nhỏ chuyển đổi với chồng bà là ông Nguyễn Thanh Hải (chưa thực hiện thủ tục chuyển đổi theo quy định), ông Hải có trồng các cây Chanh và Nhãn, bà Màng đồng ý giao cho ông Tới Nhỏ sử dụng và không có yêu cầu trả giá trị.

Trường hợp công nhận cho ông Nguyễn Văn Tấn và anh Nguyễn Văn Phúc được sử dụng diện tích đất 557,8m² (gồm các mốc 1-2-3-6-1), thì bà Màng yêu cầu ông Tấn, anh Phúc trả giá trị chênh lệnh là 400.000.000 đồng, với lý do là vị trí đất nêu trên có một phần diện tích được cấp là đất ở trong khi đất ông Tới Nhỏ là đất cây lâu năm và nhiều hơn diện tích chuyển đổi với ông Tới Nhỏ là 112,8m².

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn Tấn có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà trình bày:

Năm 2000, ông có thoả thuận chuyển nhượng đất với ông Tới Nhỏ diện tích đất đo đạc thực tế 1.081,5m² gồm các mốc 1-2-3-4-5-6 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành. Về giá chuyển nhượng là 20 chỉ vàng 24K. Thực tế là chuyển nhượng dùm cho anh Phúc (con của ông). Sau khi ông Tới Nhỏ giao đất ông đã giao cho anh Phúc canh tác, sử dụng từ năm 2000.

Nay ông cũng đồng ý để anh Phúc được quyền sử dụng đấi với diện tích đất nêu trên. Ông thống nhất ý kiến của anh Phúc yêu cầu ông Tới Nhỏ tiếp tục việc chuyển nhượng QSD diện tích đất nêu trên cho anh Phúc được quyền sử dụng hợp pháp.

Đối với yêu cầu độc lập của bà Hồ Kim Màng thì ông cũng thống nhất ý kiến của anh Nguyễn Văn Phúc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hộ ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ bà Nguyễn Thị Lệ, chị Nguyễn Thị Mỹ Nhung, chị Nguyễn Thị Mỹ Nương, Nguyễn Thị Mỹ Sương: Có đơn xin vắng mặt và nêu ý kiến, thống nhất ý kiến của ông Tới Nhỏ và không có tranh chấp gì trong vụ án này. Ông Tới Nhỏ toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Hồng Tươi, Nguyễn Kha, Nguyễn Hưng – người đại diện theo pháp luật của Kha, Hưng là anh Phúc, chị Tươi- người đại diện theo uỷ quyền anh Lê Văn Tấn trình bày: Thống nhất ý kiến và yêu cầu của anh Phúc, ngoài ra không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

- Luật sư Trần Ngọc Tiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn Phúc trình bày: Việc chuyển nhượng đất giữa ông Tới Nhỏ và ông Nguyễn văn Tấn, anh Nguyễn Văn Phúc được các bên thừa nhận nên không phải chứng minh. Việc đổi đất giữa ông Hải và ông Tới Nhỏ bà Màng trình bày không biết là không có căn cứ. Vì trên thực tế bà Màng cũng đã sử dụng phần đất được chuyển đổi. Về hình thức của hợp đồng chuyển đổi và hợp đồng chuyển nhượng QSD đất đã được các bên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Vì vậy, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 92 của Bộ luật TTDS và Án lệ số 55 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Luật sư Lê Thị Vân Lan bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hồ Kim Màng trình bày:

Hợp đồng chuyển đổi đất giữa ông Hải và ông Tới Nhỏ không tuân thủ hình thức theo qui định của pháp luật. Đồng thời, nguyên đơn không chứng minh được thời gian vào sử dụng phần đất chuyển đổi từ năm 2000; QSD đất được cấp cho hộ nhưng ông Hải đơn phương chuyển đổi không có sự đồng ý của các thành viên trong hộ và bà Màng cũng không có sử dụng phần đất chuyển đổi. Vì vậy đề nghị HĐXX tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển đổi đất giữa ông Hải và ông Tới Nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, thẩm phán đã vi phạm thời hạn xử lý đơn khởi kiện và vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án theo Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng về xét xử sơ thẩm vụ án. Người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Qua phát biểu tranh luận và trên cơ sở phân tích, đánh giá chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 3, 100,166, 167, 203 Luật đất đai năm 2013; Các Điều 116, 117, 118, 129, 133, 455, 500, 501 Bộ luật dân sự;

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Phúc.

+ Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ và anh Nguyễn Văn Phúc. Anh Nguyễn Văn Phúc được đứng tên quản lý phần diện tích đất đo đạc thực tế là 1.081,5m² gồm các mốc 1-2-3-4-5-6 thể hiện trên sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Châu Thành.

- Không chấp nhận việc bà Hồ Kim Màng yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển đổi đất năm 2000 giữa ông Nguyễn Thanh Hải và ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ. Không chấp nhận việc bà Hồ Kim Màng yêu cầu ông Nguyễn Văn Tấn và anh Nguyễn Văn Phúc trả giá trị chênh lệch là 400.000.000 đồng cho bà Màng.

+ Công nhận hợp đồng chuyển đổi đất năm 2000 giữa ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ và ông Nguyễn Thanh Hải (nay bà Hồ Kim Màng là người đứng tên thừa kế sau khi ông Hải chết).

+ Công nhận cho bà Hồ Thị Màng được tiếp tục quản lý sử dụng phần diện tích đất đo đạc thực tế là 445m² gồm các mốc 1-2-3-9-1, thể hiện trên sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành.

Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ, bà Hồ Kim Màng được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiến nghị: Sẽ có kiến nghị sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về tố tụng:
    1. [1.1] Anh Nguyễn Văn Phúc khởi kiện ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ yêu cầu Tòa án giải quyết về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Bị đơn cư trú tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp và phần đất tranh chấp tọa lạc tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
    2. [1.2] Bà Nguyễn Thị Lệ, chị Nguyễn Thị Mỹ Nhung, chị Nguyễn Thị Mỹ Nương, Nguyễn Thị Mỹ Sương có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị Lệ, chị Nguyễn Thị Mỹ Nhung, chị Nguyễn Thị Mỹ Nương, Nguyễn Thị Mỹ Sương.
  2. [2] Về nội dung: Xét yêu cầu của bà Hồ Kim Màng, Hội đồng xét xử xét thấy:
    1. [2.1] Quá trình giải quyết vụ án bà Màng đã xuất trình “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 16, tờ bản đồ 12, diện tích cấp giấy 1.619,9m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành cấp ngày 21/10/2010 cho bà Hồ Kim Màng và hồ sơ nhận thừa kế đất từ ông Nguyễn Thanh Hải sang bà Hồ Kim Màng vào năm 2010”, qua xem xét hồ sơ nhận thừa kế thì cơ quan có thẩm quyền không tiến hành đo đạc thửa đất chỉ thực hiện việc khai nhận thừa kế trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh Hải được Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành cấp ngày 18/8/1994. Trong khi đó, ông Nguyễn Thanh Hải đã thoả thuận chuyển đổi 01 phần thửa 16 (thửa củ 463) cho ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ vào năm 2000. Tuy Hợp đồng chuyển đổi đất giữa ông Hải và ông Tời Nhỏ không tiến hành thủ tục chuyển đổi theo qui định của pháp luật nhưng ông Hải và ông Tới Nhỏ đã giao diện tích đất chuyển đổi cho nhau, sau đó ông Tới Nhỏ đã giao phần đất chuyển đổi của ông Hải cho ông Tấn, anh Phúc thực tế sử dụng vào năm 2000 (được ông Tới Nhỏ, ông Tấn, anh Phúc xác định). Trong suốt thời gian từ năm 2000 đến khi ông Hải chết (ngày 04/7/2009) thì không ai tranh chấp phần đất chuyển đổi và đã giao cho anh Phúc quản lý, sử dụng. Điều đó, chứng minh ông Hải và ông Tới Nhỏ đã tự nguyện chuyển đổi đất là thực tế. Quá trình sau khi chuyển đổi ông Hải đã trực tiếp sử dụng và trồng cây trên đất của ông Tới Nhỏ và đến thời điểm hiện tại bà Màng cũng xác định cây trồng trên diện tích đất đo đạc thực tế 445m² thuộc một phần thửa số 17, tờ bản đồ số 12 của ông Tới Nhỏ là của ông Hải trồng và bà Màng cũng đang quản lý sử dụng. Qua xem xét, thẩm định thì phần diện tích đất nêu trên ông Tới Nhỏ cũng xác định không có sử dụng và đã rào bằng lưới ngăn cách với phần đất còn lại của ông Tới Nhỏ. Đồng thời, tại vị trí các mốc 2-3-4 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 05/9/2023 là hàng rào lưới B 40, được bà Màng xác định là do bà rào từ năm 2017. Vì vậy, bà Màng xác định không biết việc ông Hải chuyển đổi đất là không có căn cứ. Về diện tích chuyển đổi có chênh lệnh theo ông Tới Nhỏ trình bày vì chỗ anh em nên khi chuyển đổi không đo đạc chính xác diện tích. Tuy nhiên, cả hai đã giao nhận đất và sử dụng không ai tranh chấp. Qua đó đã chứng minh các bên chuyển đổi quyền sử dụng đất đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau. Vì vậy, tại thời điểm chuyển đổi đất giữa ông Hải và ông Tới Nhỏ phù hợp qui định tại các Điều 693; Điều 694; Điều 695; Điều 696 của Bộ Luật dân sự năm 2005 và phù hợp qui định tại Điều 129 của Bộ luật dân sự năm 2015. Qua đó, Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng chuyển đổi đất giữa ông Hải và ông Tới Nhỏ. Theo đó, bà Hồ Kim Màng yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng nêu trên là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
    2. [2.2] Đối với việc bà Hồ Kim Màng yêu cầu, nếu trường hợp công nhận cho ông Nguyễn Văn Tấn và anh Nguyễn Văn Phúc được sử dụng diện tích đất 557,8m² (gồm các mốc 1-2-3-6-1), thì bà Màng yêu cầu ông Tấn và anh Phúc trả giá trị chênh lệch là 400.000.000 đồng, lý do là vị trí đất nêu trên có một phần diện tích được cấp là đất ở, trong khi đất ông Tới Nhỏ là đất cây lâu năm và phần đất của bà Màng nhiều hơn diện tích chuyển đổi với ông Tới Nhỏ là 112,8m², Hội đồng xét xử xét thấy: Khi ông Nguyễn Thanh Hải và ông Tới Nhỏ thỏa thuận chuyển đổi đất vào năm 2000, thì các bên không đề cập đến loại đất mà các bên chuyển đổi, chỉ thỏa thuận đổi ngang, không có thỏa thuận là phải trả giá trị loại đất, đồng thời khi chuyển đổi các bên tự đo đạc và giao đất cho nhau. Sau khi chuyển đổi thì các bên đã thống nhất diện tích và sử dụng phần đất nhận chuyển đổi ổn định từ năm 2000 đến nay mà không xảy ra tranh chấp. Cho nên việc bà Màng yêu cầu ông Tấn và anh Phúc trả giá trị chênh lệch cho bà là không có căn cứ nên không chấp nhận.
  3. [3] Xét yêu cầu của anh Nguyễn Văn Phúc, Hội đồng xét xử xét thấy:
    1. [3.1] Quá trình giải quyết vụ án anh Phúc đã xuất trình “Tờ thỏa thuận sang nhượng đất năm 2000, được ông Nguyễn Thành Dũng (trưởng ấp) xác nhận ngày 02/6/2009”. Ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ không thừa nhận Tờ thoả thuận trên. Tuy nhiên ông Tới Nhỏ xác định diện tích đo đạc thực tế 1.081,5m² gồm các mốc 1-2-3-4-5-6 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành ông đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Tấn (cha ruột anh Phúc) từ năm 2000 và đã nhận đủ 20 chỉ vàng 24K. Điều này thể hiện ông Tới Nhỏ đã chuyển nhượng diện tích đất nêu trên và hiện tại cũng không tranh chấp. Ông Nguyễn Văn Tấn xác định ông đứng ra chuyển nhượng diện tích đất nêu trên cho anh Phúc và cũng đề nghị công nhận diện tích đất chuyển nhượng cho anh Phúc.
    2. [3.2] Về hình thức hợp đồng chuyển nhượng tuy không đảm bảo về hình thức, không có công chứng chứng thực theo quy định, nhưng thực tế ông Tấn và anh Phúc đã giao đủ tiền (vàng) cho ông Tới Nhỏ và ông Tới Nhỏ cũng đã giao đất cho anh Phúc canh tác từ khi giao kết hợp đồng năm 2000 và sử dụng ổn định đến nay. Do đó, căn cứ Điều 129 Bộ luật dân sự, công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ và anh Nguyễn Văn Phúc theo Tờ thỏa thuận sang nhượng đất năm 2000, được ông Nguyễn Thành Dũng (trưởng ấp) xác nhận ngày 02/6/2009 có hiệu lực pháp luật.
    3. [3.3] Đối với ông Tới Nhỏ cho rằng chỉ đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn Tấn, nhưng nếu ông Tấn đồng ý để cho anh Phúc sử dụng diện tích đất trên thì ông Tới Nhỏ cũng không có ý kiến cũng không có tranh chấp gì. Thế nên, việc anh Phúc yêu cầu công nhận cho anh được quyền quản lý, sử dụng hợp pháp phần diện tích đất đo đạc thực tế là 1.081,5m² gồm các mốc 1-2-3-4-5-6 thể hiện trên sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Châu Thành là có cơ sở nên chấp nhận.
  4. [4] Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho anh Nguyễn Văn Phúc, không chấp nhận đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Màng.
  5. [5] Hội đồng xét xử chấp đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa về nội dung vụ án.
  6. [6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án quy định về nghĩa vụ chịu án phí;
  7. Do chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Phúc nên ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định; Không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Kim Màng nên bà Hồ Kim Màng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ và bà Hồ Kim Màng trên 60 tuổi là người cao tuổi theo qui định của Luật người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.

  8. [7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ, định giá tài sản và đo đạc: Căn cứ vào Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chịu lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc:
  9. Do chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Phúc nên ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ phải chịu lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc. Anh Nguyễn Văn Phúc đã nộp tạm ứng số tiền 3.711.500 đồng (ba triệu bảy trăm mười một ngàn năm trăm đồng) và đã chi xong. Theo đó, ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Nguyễn Văn Phúc số tiền 3.711.500 đồng (ba triệu bảy trăm mười một ngàn năm trăm đồng).

    Không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Kim Màng nên bà Hồ Kim Màng phải chịu lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc. Bà Hồ Kim Màng đã nộp tạm ứng số tiền 6.382.600 đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi hai ngàn sáu trăm đồng) và đã chi xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147; Điều 157; Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 693; Điều 694; Điều 695; Điều 696 của Bộ Luật dân sự năm 2005; Điều 129 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100; Điều 101; Điều 166; Điều 167; Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hồ Kim Màng về việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất năm 2000 giữa ông Nguyễn Thanh Hải và ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ.
  2. Công nhận Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất năm 2000 giữa ông Nguyễn Thanh Hải và ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ đối với diện tích đất đo đạc thực tế 557,8m² (gồm các mốc 1-2-3-6-1), thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành thuộc 01 phần thửa số 16, tờ bản đồ 12, diện tích cấp giấy 1.619,9m², mục đích sử dụng đất ở và đất trồng cây lâu năm; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành cấp ngày 21/10/2010 cho bà Hồ Kim Màng với diện tích đất đo đạc thực tế 445m² gồm các mốc 1-2-3-9-1, thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành thuộc một phần thửa số 17, tờ bản đồ số 12, diện tích cấp giấy 1.346m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 19/02/2021 cho hộ ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ.
  3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Kim Màng yêu cầu ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ, anh Nguyễn Văn Phúc và những người đang ở trên đất (vợ, con ông Phúc) phải di dời tài sản trên đất để trả lại phần đất diện tích 557,8m², theo các mốc 1-2-3-4-6 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành. Đồng thời không chấp nhận yêu cầu của bà Màng yêu cầu ông Tấn, anh Phúc trả giá trị chênh lệnh là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).
  4. Công nhận cho bà Hồ Kim Màng được tiếp tục quản lý sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế 445m² gồm các mốc 1-2-3-9-1, thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành thuộc một phần thửa số 17, tờ bản đồ số 12, diện tích cấp giấy 1.346m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 19/02/2021 cho hộ ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ.
  5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Phúc;
  6. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ với anh Nguyễn Văn Phúc theo Tờ thỏa thuận sang nhượng đất năm 2000, được ông Nguyễn Thành Dũng (trưởng ấp) xác nhận ngày 02/6/2009.
  7. Công nhận cho anh Nguyễn Văn Phúc được quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đo đạc thực tế 1.081,5m² gồm các mốc 1-2-3-4-5-6 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành) thuộc một phần thửa số 16, tờ bản đồ số 12, diện tích 557,8m² (gồm các mốc 1-2-3-6-1), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 21/10/2010 cho bà Hồ Kim Màng và một phần thửa 17, tờ bản đồ số 12, diện tích 523,7m² (gồm các mốc 3-4-5-6-3). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 19/02/2021 cho hộ ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ.

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký, điều chỉnh, tách nhập thửa, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật.

(Đính kèm Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/9/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Châu Thành)

  1. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ, bà Hồ Kim Màng được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Anh Nguyễn Văn Phúc được hoàn trả 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0015428 ngày 19/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ, định giá tài sản và đo đạc: ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ có nghĩa vụ nộp 3.711.500 đồng (ba triệu bảy trăm mười một ngàn năm trăm đồng) để hoàn trả cho anh Nguyễn Văn Phúc.
  4. Bà Hồ Kim Màng nộp 6.382.600 đồng (sáu triệu ba trăm tám mươi hai ngàn sáu trăm đồng) đã nộp và chi xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Lệ, chị Nguyễn Thị Mỹ Nhung, chị Nguyễn Thị Mỹ Nương, Nguyễn Thị Mỹ Sương vắng mặt tại phiên toà, ông Nguyễn Văn Tới Nhỏ vắng mặt khi tuyên án thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận :

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THA huyện Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ + VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 10/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger