|
TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BẢN ÁN SỐ: 10/2025/HS-ST
NGÀY: 12/02/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Quang Vinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên Tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1998. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn M, sinh năm 1973 (đã chết); Mẹ đẻ: Ngô Thị M1, sinh năm 1971. Gia đình có ba anh em, bản thân là thứ ba; Vợ, con: Chưa có. Nhân thân: Bản án số 10/2018/HS-ST ngày 27/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Nguyễn Văn H 05 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2018, chấp hành xong án phí ngày 19/4/2018.
Tiền án: Bản án số 87/2021/HS-ST ngày 21/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/12/2023 nhưng chưa chấp hành phần dân sự và chưa nộp án phí HSST, DSST. Tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Công an huyện L – (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm 1990; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970; Gia đình có ba anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Trần Thị H1, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Có 01 con nhỏ sinh năm 2017; Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Công an huyện L – (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn L, sinh năm 1959; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1960 (đã chết); Gia đình có 05 anh, chị em; bản thân là con thứ năm; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: Ngày 05/01/2012, Nguyễn Văn Q bị UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bị can chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính ngày 06/01/2013.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Công an huyện L – (Có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974 (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1976; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2024 đến ngày 01/11/2024. Hiện đang áp dụng biển pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh – (Có mặt tại phiên tòa).
+ Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976 – Do ông Trịnh Văn T3, sinh năm 1971 là chồng đại diện – (Có mặt). Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện L, Bắc Giang.
- Ông Đoàn Văn D, sinh năm 1977 – (Vắng mặt). Địa chỉ: TDP Q, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Ông Phan Văn T4, sinh năm 1960 – (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ngô Thị M1, sinh năm 1959 – (Có mặt). Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Bùi Duy Q1, sinh năm 1998 – (Vắng mặt). Địa chỉ: TDP C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1998; Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 và Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988. Cùng trú tại: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang có quan hệ bạn bè và đều là những đối tượng nghiện ma túy nên C, H thường xuyên đến chơi và ăn, ở tại nhà của Q. Từ ngày 13/10 đến ngày 23/10/2024, do không có tiền chi tiêu nên H và C đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, chiếm đoạt 03 chiếc xe mô tô trên địa bàn huyện L. C, H và Q đã bán 02 chiếc xe mô tô cho Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998 ở cùng thôn, cụ thể:
* Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ ngày 13/10/2024, H đi xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 98M1- 9112 (xe của bà Ngô Thị M1 mẹ của H) đến nhà Q để rủ C đi trộm cắp xe mô tô thì C đồng ý. Sau đó, C đem theo 01 vam phá khóa rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 9112 chở H đi từ nhà Q đến khu vực cánh đồng “Cửa” thuộc địa phận thôn Đ, xã D, huyện L. Phát hiện thấy có 01 xe mô tô hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98B2- 639.75 của bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976 ở thôn Đ, xã D ở dưới lề đường bên trái. Quan sát thấy không có người trông coi, C bảo H lái xe chở C đến gần vị trí chiếc xe của bà H2 thì dừng lại, C xuống xe dùng vam phá khóa cắm vào ổ khóa điện xe của bà H2 vặn khóa điện xe nhưng không mở được. Thấy vậy, H đi đến dắt chiếc xe mô tô của bà H2 lên trên đường rồi ngồi lên yên xe để C đi mô tô 98M1- 9112 phía sau dùng chân đẩy xe đi về hướng xã T được một đoạn thì dừng lại. Tại đây, H dùng tay đấu nối điện nổ máy xe rồi C đi xe của H về nhà Q trước, còn H đi xe mô tô của bà H2 đến bãi đất trống ở tổ dân phố S, thị trấn K, huyện L tháo biển số vứt đi rồi H tiếp tục đi xe đến cửa hàng sửa chữa xe máy của T2 ở tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L mượn đồ tháo yếm xe của bà H2 để ở góc cửa hàng rồi đi về nhà Q. Khi H về đến nơi, Q nhìn thấy xe không có yếm, không có biển số nên hỏi H “xe ở đâu” thì H trả lời “lấy bên L gần T”, lúc này Q biết đây là xe mô tô H, C trộm cắp mà có nhưng không nói gì và đi có việc. Sau đó, H dùng chiếc xe mô tô của bà H2 để làm phương tiện đi lại, còn chiếc xe mô tô 98M1- 9112 H đem về nhà trả cho mẹ.
* Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 20/10/2024, H đi xe mô tô biển kiểm soát 98B2- 639.75 (xe của bà H2) đến nhà Q rủ C đi trộm cắp tài sản, C đồng ý. Sau đó, C đem theo 01 chiếc vam phá khóa rồi điều khiển xe mô tô của bà H2 chở H đi từ nhà Q đến đoạn đường đi ra cánh đồng ở tổ dân phố Q, thị trấn V, huyện L thì cả hai cùng phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98L3- 1636 của ông Đoàn Văn D, sinh năm 1977 ở tổ dân phố Q dựng ở rìa đường. Quan sát thấy không có người trông coi, C đỗ xe cách xe mô tô của ông D khoảng 01m và ngồi trên xe cảnh giới để H cầm vam phá khóa đi đến chọc vào ổ khóa điện xe mô tô của ông D và vặn theo chiều kim đồng hồ thì mở được mở khóa xe. Sau đó, C đi xe của bà H2 về nhà Q trước, còn H nổ máy xe mô tô của ông D đi đến đoạn đường phía sau Công ty gỗ “Cẩm Lâm” ở thôn Đ, xã Đ, huyện L thì dừng lại. Tại đây, H dùng chìa khóa xe của ông D để trên lồng phía trước đầu xe mở cốp lấy cờ lê ra tháo biển số, gương chiếu hậu gắn trên xe của ông D ra vứt đi. Sau đó, H đi xe của ông D về cửa hàng sửa chữa xe máy của T2 mượn cờ lê tháo yếm xe để vào trong góc cửa hàng rồi đi xe về nhà Q. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, C và H nói cho Q biết chiếc xe trên là tài sản trộm cắp mà có và bảo với Q khi nào bán xong Q đến đón thì C, H cho tiền và Q đồng ý. Sau đó, C, H đi xe mô trộm cắp được của ông D đến cửa hàng sửa chữa xe của T2 ở cùng thôn để bán cho T2. Khi H, C đi xe đến, T2 kiểm tra thấy xe không có yếm, không gắn biển số, không có đăng ký xe và ổ khóa có dấu hiệu bị cậy phá nên hỏi H, C “xe anh lấy ở đâu ra” thì H nói “anh lấy ở B”. Lúc này, T2 biết rõ chiếc xe trên là tài sản do H, C trộm cắp mà có nhưng ham rẻ nên đồng ý mua và trả cho H, C số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi bán được xe, C gọi điện cho Q đến chở C, H về rồi H chia cho C 1.700.000 đồng, H 2.000.000 đồng và cho Q 300.000 đồng.
* Vụ thứ ba: Khoảng 07 giờ ngày 23/10/2024, H đi chiếc xe trộm cắp của bà H2 đến nhà Q rủ C đi trộm cắp xe mô tô, C đồng ý. Sau đó, C đem theo 01 chiếc vam phá khóa rồi điều khiển xe mô tô chở H đi từ nhà Q đến đoạn đường thuộc thôn D, xã N, huyện L thì cả hai cùng phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát 98B1- 441.30 của ông Phan Văn T4, sinh năm 1960, trú tại: thôn D, xã N đang dựng ở dưới bờ ruộng bên trái đường, trên xe vẫn cắm chìa khóa. Quan sát thấy không có người trông coi nên C đỗ xe ở trên đường ngồi cảnh giới để H xuống dắt xe mô tô của ông T4 lên đường. Sau đó, C điều khiển xe mô tô dùng chân đẩy xe mô tô trộm cắp được của ông T4 do H điều khiển đi về hướng xã D. Khi đi được khoảng 02 Km, H dừng xe lại mở cốp chiếc xe mô tô trộm cắp được bật công tắc nguồn điện, đề nổ máy rồi cùng C cùng đi về nhà Q. Tại đây, H lấy cờ lê trong cốp xe của ông T4 ra tháo biển số, yếm thì Q nhìn thấy nên biết chiếc xe mô tô này là tài sản do H, C trộm cắp mà có. C và H đem biển số xe mô tô 98B1- 441.30 của ông T4 đến vứt ở khu vực đầu cầu “Đại Lâm” thuộc thôn Đ, xã Đ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, C, H bảo Q cùng đi bán xe của ông T4 rồi chở C về thì sẽ cho Q 500.000 đồng, Q đồng ý. Sau đó, C đi xe mô tô của ông T4, còn Q đi xe mô tô 98F1-390.33 của mình đến cửa hàng sửa chữa xe máy của T2. Khi C đi xe đến, T2 kiểm tra thấy xe không có yếm, không gắn biển số, không có giấy đăng ký nên gọi điện hỏi H “xe này ở đâu” thì H nói “vẫn chỗ hôm trước”. T2 biết đây là xe do H, C trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 4.300.000 đồng. T2 trả tiền cho C rồi đem chiếc xe của ông T4 đến gửi tại nhà anh Bùi Duy Q1; C lên xe Q chở về và chia cho Q 500.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 110/KL- HĐĐGTS ngày 27/10/2024 và Kết luận định giá tài sản số 112/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: “ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98B2- 639.75, màu sơn nâu, xe đã cũ qua sử dụng, tại thời điểm ngày 13/10/2024 có giá 15.500.000 đồng; 01 xe mô tô Honda Dream, màu nâu biển kiểm soát 98L3-1636 đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 20/10/2024 có giá 7.500.000 đồng; 01 xe mô tô Honda Dream, màu nâu biển kiểm soát 98B1- 441.30 đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 23/10/2024 có giá 11.000.000 đồng”. Tổng trị giá tài sản là 34.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 10/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T2 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa các bị cáo H; C, Q và T2 đều đã khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Q xin được sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại OPO bị vỡ nứt màn hình.
- Bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai trong hồ sơ. Tại phiên tòa đại diện bị hại bà Nguyễn Thị H2 là ông Trịnh Văn T3 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì về dân sự và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Phát biểu quan điểm luận tội tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, nhân thân cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện VKSND Huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Văn Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù và áp dụng khoản 1 Điều 323; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 65 BLHS xử phạt Nguyễn Văn T2 từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị HĐXX xử lý về vật chứng và án phí của vụ án.
Các bị cáo đều không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, ý kiến của bị cáo, người bị hại trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Việc đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa, qua xét hỏi Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn C; Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T2 khai nhận: Trong khoảng thời gian từ ngày 13/10/2024 đến ngày 23/10/2024, Nguyễn Văn H đã cùng với Nguyễn Văn C thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, chiếm đoạt 03 chiếc xe mô tô trên địa bàn huyện L. Tài sản trộm cắp được, C, H cùng với Nguyễn Văn Q đã bán 02 chiếc xe mô tô cho Nguyễn Văn T2 ở cùng thôn, cụ thể: Ngày 13/10/2024, trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Dream màu nâu, biển kiểm soát 98B2-639.75, trị giá 15.500.000 đồng của bà Nguyễn Thị H2; Ngày 20/10/2024 trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Dream màu nâu, biển kiểm soát 98L3-1636, trị giá 7.500.000 đồng của ông Đoàn Văn D; ngày 23/10/2024 trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Dream màu nâu, biển kiểm soát 98B1-441.30, trị giá 11.000.000 đồng của ông Phan Văn T4. Tổng giá trị tài sản trộm cắp 34.000.000 đồng (Ba mươi tư triệu đồng).
Nguyễn Văn Q biết rõ 03 xe mô tô trên là tài sản do H, C trộm cắp mà có những vẫn giúp sức cho H, C đi bán xe nên Q phải chịu trách nhiệm về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” với tổng số tiền là 34.00.000 đồng. Khi mua xe, Nguyễn Văn T2 biết rõ xe mô tô của ông D và xe mô tô của ông T4 là tài sản do H, C trộm cắp mà nhưng vẫn mua nên T2 phải chịu trách nhiệm về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” với tổng số tiền là 18.500.000 đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo được chứng minh bằng đơn trình báo, lời khai của người bị hại và phù hợp với thời gian địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Văn Q; Nguyễn Văn T2 phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 10/01/2024 của VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố đối với Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Văn Q; Nguyễn Văn T2 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự phạm tội với lỗi cố ý, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây bức xúc phẫn nộ và làm hoang mang tinh thần trong quần chúng nhân dân. Do đó phải xử phạt đối với các bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời răn đe ngăn chặn phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo HĐXX thấy:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm. Quy định tại Điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Các bị cáo Nguyễn Văn C; Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T2 đều phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cả 4 bị cáo đều đầu thú về hành vi phạm tội của mình; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn T2 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình T2 hiện đang thờ cúng liệt sỹ, nên cần xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho T2.
[4.3] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có đồng phạm, được tổ chức với hình thức đồng phạm giản đơn. Trong tội trôm cắp tài sản các bị cáo khi thực hiện tội phạm đều ngầm hiểu ý nhau mà không có sự phân công phân nhiệm cụ thể. Các lần đi trộm cắp thì H đều là người rủ rê và khi thực hiện hành vi phạm tội, C là người giúp sức tích cực nên vai trò của H cao hơn C. Áp dụng Điều 17; Điều 58 BLHS đối với các bị cáo.
Về vai trò của Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T2 trong tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì Q đều biết cả ba vụ trộm cắp tài sản của H và C nhưng không khuyên bảo mà còn giúp sức cùng các bị cáo mang tài sản trộm cắp đi tiêu thụ để được hưởng lợi; T2 mặc dù không hứa hẹn nhưng có biết là tài sản do trộm cắp được và vẫn cố tình mua rẻ tài sản trộm cắp của H và C nên các bị cáo độc lập với nhau trong tội Tiêu thụ. Do đó Q có vai trò cao hơn T2 trong tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
[4.4] Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn Q là người phạm tội có nhân thân:
- + Đối với Nguyễn Văn H:
- - Nhân thân: Bản án số 10/2018/HS-ST ngày 27/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Nguyễn Văn H 05 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2018, chấp hành xong án phí ngày 19/4/2018.
- Tiền án: Bản án số 87/2021/HS-ST ngày 21/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/12/2023 nhưng chưa chấp hành phần dân sự và chưa nộp án phí HSST, DSST.
- + Đối với Nguyễn Văn Q: Ngày 05/01/2012, Q bị UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính ngày 06/01/2013.
[5] Về áp dụng hình phạt: Từ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, sau khi đánh giá nhân thân của từng bị cáo HĐXX thấy: Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Mặc dù bản thân H đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt về các hành vi phạm tội đều với lỗi cố ý và lần phạm tội gần nhất vào năm 2021 bị cáo chưa được xóa án tích thuộc trường hợp tái phạm, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa mà vẫn tiếp tục tái phạm tội, chứng tỏ bị cáo là con người khó giáo dục. Nguyễn Văn Q là người phạm tội có nhân thân; Nguyễn Văn C mặc dù chưa có tiền án tiền sự, tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội tỏ ra tích cực và là người trực tiếp thực hiện hành vi. Do vậy HĐXX xét thấy cần bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành con người làm ăn lương thiện. Áp dụng Điều 38 BLHS đối với cả 3 bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2, HĐXX xét thấy: Bị cáo T2 có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, bản thân bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS, ý kiến của đại diện VKS huyện L tại phiên tòa cũng đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo, do vậy cần chấp nhận cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành con người làm ăn lương thiện, vừa thể hiện tính nhân đạo pháp luật XHCN. Áp dụng Điều 65 BLHS.
[6] Hiện bị cáo Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Q đều đang bị tạm giam. Để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX xét cần tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày theo quy định tại Điều 329 BLTTHS.
[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 BLHS phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo H; C và Q để sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên xét thấy điều kiện hoàn cảnh gia đình các bị cáo H; C khó khăn, các bị cáo mắc nghiện ma túy không có công ăn việc làm ổn định; Gia đình bị cáo Q thuộc đối tượng hộ cận nghèo và hiện tại cả 3 bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX xét miễn phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo để yên tâm cải tạo, sớm có điều kiện trở về với gia đình. Riêng đối với Nguyễn Văn T2 HĐXX phạt bổ sung bằng tiền với T2 số tiền 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Bị hại bà Nguyễn Thị H2, ông Đoàn Văn D, ông Phan Văn T4 đã nhận lại tài sản bị mất trộm. Bà H2 và ông T4 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì; ông D yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng chi phí lắp đặt biển số xe, chi phí đi lại và tiền công lao động bị mất do không có phương tiện đi lại trong những ngày Cơ quan điều tra tạm giữ xe. Bị cáo T2 đã thay các bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền trên cho ông D và được ông D có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đồng thời, T2 không yêu cầu các H, C và Q trả lại số tiền bồi thường và số tiền mua xe. Tại phiên tòa ông Trịnh Văn T3 là chồng bà Nguyễn Thị H2 không yêu cầu gì đối với các bị cáo về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.
[9] Về vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ vật chứng:
- + Chiếc xe mô tô Honda Dream, số khung RLHHA080XAY401918, số máy HA08E-1701671, 01 chìa khóa xe mô tô; 01 bộ yếm màu trắng là tài sản của bà Nguyễn Thị H2; Chiếc xe mô tô hiệu Honda Dream, số khung RLHHA0804AY232169, số máy HA08E-1531960, 01 chìa khóa xe mô tô; 01 bộ cánh yếm màu trắng là tài sản của ông cho ông Phan Văn T4; Chiếc xe mô tô hiệu Honda Dream, số khung RLHHA08013Y580949, số máy HA08E-0580974 và 01 b xe có gắn giá đỡ bằng kim loại, 02 chiếc gương chiếu hậu xe mô tô và 01 chìa khóa xe mô tô là tài sản của ông Đoàn Văn D. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.
- + Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 98M1-9112 là phương tiện ngày 13/10/2024, H chở C đi trộm cắp tài xe mô tô của bà H2. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này là tài sản của bà Ngô Thị M1 (mẹ của H) cho H mượn để đi có việc. Sau đó, H sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản của bà H2 thì bà M1 không biết, nên Cơ quan điều tra không thu giữ xe của bà Ngô Thị M1.
- + 01 chiếc áo mưa màu xanh đen; 01 chiếc áo khoác màu xanh thu giữ là tài sản của bị cáo Q không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo khai không có yêu cầu trả lại, hiện các vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tiêu hủy.
- + 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98F1-390.33, 01 chìa khóa xe mô tô của Q; 01 điện thoại hiệu Iphone 7 của H; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ qua sử dụng, số IMIL 356554086047905, màn hình có vạch kẻ ngang màu đen cũ đã qua sử dụng của H và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ qua sử dụng, số IMEI 356774084037613 lắp số thuê bao 0382.999.198 của Nguyễn Văn T2 và 01 bộ vam phá khóa của C là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Riêng 01 điện thoại hiệu OPPO cũ hỏng của Q, tại phiên tòa Q khai không dùng vào việc phạm tội song Q không yêu cầu trả lại mà đề nghị HĐXX sung vào công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại này.
- + Số tiền 8.000.000 đồng, T2 nộp trong qúa trình điều tra để đảm bảo việc thi hành án sẽ trả lại cho bị cáo song tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Đối với các biển số xe 98B2- 639.75 của bà H2, biển số 98L3-1636 của ông D, biển số 98B1- 441.30 của ông T4. Sau khi trộm cắp xe mô tô, C và H đã tháo biển số vứt đi, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
[10] Về hành vi của những người liên quan: Đối với anh Bùi Duy Q1 có hành vi cho T2 gửi 02 chiếc xe mô tô là tài sản do phạm tội mà có; ông Nguyễn Văn L (bố của Q) là chủ nhà nơi các bị cáo cất dấu vam phá khóa là công cụ dùng để đi phạm tội và yếm xe là tài sản do phạm tội mà có nhưng cả hai không biết những tài sản trên là do phạm tội mà có nên anh Q1 và ông L không vi phạm pháp luật.
[11] Tại phiên tòa hôm nay bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án vắng mặt, tuy nhiên đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy báo phiên tòa đầy đủ, hợp lệ, do vậy quyền lợi đã được đảm bảo.
[12] Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH bị cáo H; C và T2 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Q thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS.
[14] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Điều 47; khoản 2, 3 Điều 106; Điều 331 và Điều 333 BLTTHS. Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/10/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/10/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/10/2024.
- - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn T2 01 (một) năm tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 02 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T2 cho UBND xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bằng tiền với T2 số tiền 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
2. Về vật chứng:
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T2 số tiền 8.000.000 đồng, song tạm giữ số tiền để đảm bảo cho việc thi hành án.
- + Trả lại cho Nguyễn Văn H 01 thẻ ATM số 9704061983035595 Ngân hàng Đ1 mang tên Nguyễn Văn H.
- + Tiêu huỷ 01 bộ “Vam phá khóa” được niêm phong trong một bì thư dán kín có chữ ký của các thành phần tham gia được đóng dấu tròn của CQĐT Công an huyện L; 01 chiếc áo mưa màu xanh đen; 01 chiếc áo khoác màu xanh đều cũ đã qua sử dụng;
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 98F1-390.33 cũ qua sử dụng và 01 chìa khóa xe mô tô, 01 điện thoại hiệu OPPO bị vỡ nứt màn hình, không kiểm tra được tình trạng và số IMIL của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại hiệu Iphone 7, số IMIL 356554086047905, màn hình có vạch kẻ ngang màu đen cũ đã qua sử dụng của H và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen đã cũ qua sử dụng, số IMEI 356774084037613 lắp số thuê bao 0382.999.198 của Nguyễn Văn T2.
(Đặc điểm của các loại vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng số 28 ngày 15/01/2025 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyễn Văn H; Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn T2 mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Báo cho bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo, kể từ ngày nhận tống đạt bản án vắng mặt./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hùng cùng đồng bọn Trộm cắp tài sản
