TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/KDTM-ST Ngày: 18/6/2025 V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Loan
- 2. Bà Nguyễn Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thẩm tra viên - TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện VKSND TP. tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh H - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 33/2025/ TLST - KDTM ngày 25 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 100/2025/QĐXXST - KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2025 và “Quyết định hoãn phiên tòa” số 83/2025/QĐ-TA ngày 22/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1)
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, tòa nhà S P, phường B, quận A, TP.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Hoàng H1 - Giám đốc TT xử lý nợ
Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà C, số D T, quận Đ, TP . . . (Giấy ủy quyền số 196978.24 ngày 18/9/2024)
Người được ủy quyền lại:
- 1. Ông Lê Nhân C - Cán bộ VIB
- 2. Ông Hoàng Đức M - Cán bộ VIB
Cùng địa chỉ: Số F B, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa. (Giấy ủy quyền số 226892.24 ngày 18/10/2024)
- Bị đơn: 1. Bà Bùi Thị T, sinh năm 1976
2. Ông Lê Hữu Đ, sinh năm 1971
Cùng nơi cư trú: Số nhà G T, phường A, TP., tỉnh Thanh Hóa
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị G, sinh năm 1977
2. Ông Bùi Đăng M1, sinh năm 1973
Cùng nơi cư trú: Số A, phố Q, phường A, TP., tỉnh Thanh Hóa
(Tại phiên tòa có mặt ông Hoàng Đức M; Vắng mặt bà Bùi Thị T, ông Lê Hữu Đ, bà Lê Thị G, ông Bùi Đăng M1)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn TMCP Q (tên gọi tắt là V1) trình bày:
Ngày 28/4/2020 vợ chồng bà Bùi Thị T và ông Lê Hữu Đ đã ký với Ngân hàng TMCP Q (Sau đây gọi tắt là V1) “Hợp đồng tín dụng” số 2826423.20. Theo nội dung hợp đồng, VIB đồng ý cấp cho bà T ông Đ hạn mức tín dụng là 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng); Mục đích vay: Phục vụ hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng của hộ kinh doanh cá thể Lê Hữu Đ; Thời hạn của hạn mức tín dụng là 24 tháng kể từ ngày ký hợp đồng; Mỗi khoản giải ngân có thời gian tối đa là 12 tháng; Lãi suất thả nổi, được xác định tại thời điểm giải ngân và được điều chỉnh theo quy định chung của V1; Mức lãi suất, kỳ hạn điều chỉnh lãi được quy định tại từng “Khế ước nhận nợ”; Trả phí: Theo biểu phí của V1.
Trên cơ sở hợp đồng tín dụng nêu trên và 02 “Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” (số B(2).20 ngày 27/04/2021 và số: 2826423(3).20 ngày 28/04/2021) V1 đã giải ngân cho bà Bùi Thị T và ông Lê Hữu Đ 2 lần mỗi lần 450.000.000đ, tổng giải ngân 900.000.000₫ (Chín trăm triệu đồng); Lãi suất 9%/năm (áp dụng trong 6 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân). Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 2,6%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Tiền gốc thanh toán vào cuối kỳ, tiền lãi thanh toán ngày 28 hàng tháng tính trên dư nợ thực tế phát sinh, ngày trả lãi đầu tiên là 28/5/2021.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng nêu trên là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 811, tờ bản đồ số 2, địa chỉ thửa đất: Xóm T, thị trấn N, huyện Đ (nay là SN A, phố Q, phường A, thành phố T) tỉnh Thanh Hóa); Diện tích 203m²; Đất đã được UBND huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 731073 ngày 13/11/2008 mang tên ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G theo “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” số: 3853951.20 ngày 28/04/2020 giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G. Hợp đồng được công chứng số 2068, quyền số 02 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 28/04/2020 tại Văn phòng C1.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Đ bà T đã vi phạm thời gian trả nợ theo thỏa thuận tại các khế ước nhận nợ. Từ tháng 5/2022 ông Đ bà T không trả tiền gốc, tiền lãi cho V1. Tính đến ngày 18/6/2025 ông Đ bà T còn nợ V1 tổng số tiền gốc và lãi là 1.298.907.163₫ (Trong đó nợ gốc 900.000.000đ; nợ lãi trong hạn 7.282.417đ; nợ lãi quá hạn: 391.624.746₫)
Vì vậy VIB khởi kiện yêu cầu Tòa án Nhân dân thành phố Thanh Hóa giải quyết: Buộc bà Bùi Thị T và ông Lê Hữu Đ trả cho VIB số tiền nợ tính đến ngày 18/10/2024 là 1.215.744.758 đồng (trong đó nợ gốc 900.000.000đ, nợ lãi 7.282.417đ, nợ lãi quá hạn 308.462.341đ). Đồng thời yêu cầu ông Đ bà T phải tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng đã ký kể từ ngày 19/10/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký. Trường hợp ông Lê Hữu Đ bà Bùi Thị T không trả đủ số tiền nợ phát sinh theo hợp đồng thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 811, tờ bản đồ số 2, giấy chứng nhận QSDĐ số AB 731073 ngày 13/11/2008 mang tên ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G theo hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ.
Về phía bị đơn:
Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai bà Bùi Thị T xác nhận: Ngày 28/4/2020 bà Bùi Thị T và ông Lê Hữu Đ đã ký với Ngân hàng TMCP Q (V1) “Hợp đồng tín dụng” số 2826423.20. Theo nội dung hợp đồng tín dụng và 02 khế ước nhận nợ, bà T ông Đ đã vay của V1 số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng) để phục vụ hoạt động kinh doanh vật liệu xây dựng. Ông bà đã nhận đủ số tiền 900.000.000đ từ VIB. Quá trình thực hiện hợp đồng ông bà đã trả cho VIB 1 phần tiền lãi. Từ tháng 05/2022 đến nay do công việc làm ăn gặp khó khăn nên ông bà không trả được tiền lãi, tiền gốc cho V1 là vi phạm thời hạn trả nợ.
Nay VIB kiện đòi nợ, bà T công nhận tiền gốc còn nợ là 900.000.000đ, tiền lãi như VIB tính bà đồng ý, không thắc mắc. Bà đề nghị V1 giảm tiền lãi cho ông bà; Về tài sản thế chấp là tài sản của ông M1 bà G, bà không có đề nghị gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Tại bản tự khai bà Lê Thị G xác nhận: Ngày 28/04/2020 ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G đã ký với Ngân hàng TMCP Q “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” số: 3853951.20; Hợp đồng được công chứng số 2068, quyền số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/04/2020 tại Văn phòng C1.
Theo nội dung hợp đồng thế chấp nêu trên bà G ông M1 đã tự nguyện thế chấp tài sản của ông bà là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 811, tờ bản đồ số 2; Diện tích 203m²; Địa chỉ thửa đất: Xóm T, thị trấn N, huyện Đ (nay là SN A, phố Q, phường A, thành phố T) tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 731073 do UBND huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/11/2008 mang tên ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G để đảm bảo cho khoản vay của bà T ông Đ (em gái, em rể ông M1) tại “Hợp đồng tín dụng” số 2826423.20 ngày 28/4/2020 ký với V1.
Nay do bà T ông Đ không trả được nợ nên VIB khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T ông Đ trả nợ; Trường hợp bà T ông Đ không trả đủ số tiền nợ thì VIB yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Yêu cầu của V1 bà không có thắc mắc gì, bà đề nghị VIB giảm lãi cho bà T ông Đ và gia hạn 02 tháng để bà thay bà T ông Đ trả nợ và giải chấp tài sản.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Đ, ông M1 mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập nhưng không có mặt làm việc và không có bất cứ văn bản phản hồi nào tới Tòa án.
Tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bà T, ông Đ, bà G, ông M1 không có mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Ngày 23/4/2025, Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đã được tống đạt hợp lệ cho V1 và ông Đ bà T; Niêm yết hợp lệ cho ông M1 bà G. Tại phiên tòa ngày 22/5/2025, người đại diện theo ủy quyền của VIB có mặt; Bà T, ông Đ, ông M1, bà G vắng mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX quyết định hoãn phiên tòa đồng thời ấn định thời gian xét xử lại vụ án vào hồi 13 giờ 30 ngày 18/6/2025. Quyết định hoãn phiên tòa đã tống đạt, niêm yết hợp lệ cho các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay,
bà T, ông Đ, ông M1, bà G vắng mặt lần thứ 2, không có lý do.
Người đại diện theo ủy quyền của V1 đề nghị HĐXX buộc ông Đ bà T phải trả cho V1 số tiền nợ phát sinh theo hợp đồng tín dụng (nêu trên) tính đến ngày xét xử (18/6/2025) là 1.298.907.163 đ (Trong đó nợ gốc 900.000.000đ; nợ lãi trong hạn 7.282.417; nợ lãi quá hạn: 391.624.746). Các nội dung khác VIB giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đối với đề nghị của bà T bà G về việc giảm lãi và gia hạn 02 tháng để trả nợ VIB không đồng ý vì ông Đ, ông M1 không có mặt để thống nhất.
Ý kiến của đại diện VKS:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của V1 kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định; Bà T, ông Đ, bà G, ông M1 chấp hành không đầy đủ quy định. Tại phiên tòa bà T, ông Đ, bà G, ông M1 mặt lần thứ 2 không có lý do VKS đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt họ
Về nội dung vụ án:
Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của V1. Buộc bà Bùi Thị T và ông Lê Hữu Đ phải trả cho VIB số tiền nợ tính đến ngày xét xử (18/6/2025) là 1.298.907.163 đ; Buộc ông Đ bà T tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng đã ký kể từ ngày 19/6/2025 cho đến khi thực tế trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký cho V1. Trường hợp ông Đ bà T không trả hoặc trả không đủ số tiền nợ phát sinh theo hợp đồng thì VIB được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mang tên ông M1 bà G theo hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa ông M1 bà G với V1 để thu hồi nợ; Về án phí: Ông Đ bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP Q (V1) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng; Bị đơn cư trú tại thành phố T. Do đó TAND TP. Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 - Bộ luật TTDS
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa bà Bùi Thị T, ông Lê Hữu Đ (bị đơn) bà Lê Thị G, ông Bùi Đăng M1 (người có QLVNVLQ) vắng mặt. HĐXX xét, quá trình giải quyết vụ án bị đơn và người có QLNVLQ đã được giao, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, trong đó có “Quyết định đưa vụ án ra xét xử”, “Quyết định hoãn phiên tòa” (có ấn định thời gian mở lại phiên tòa). Tại phiên tòa hôm nay bị đơn và người có QLNVLQ vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, HĐXX căn cứ Điều 227; 228 - BLTTDS để xét xử vắng mặt họ
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Các đương không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Tòa án không xem xét (Theo quy định tại khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự).
[3] Về tính hiệu lực của hợp đồng
Ngày 28/4/2020 bà Bùi Thị T và ông Lê Hữu Đ đã ký với Ngân hàng TMCP Q “Hợp đồng tín dụng” số 2826423.20; ngày 27/04/2021 ký “Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” số 2826423(2).20; ngày 28/04/2021 ký “Đơn để nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” số: 2826423(3).20; Ngày 28/04/2020 ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G đã ký với Ngân hàng TMCP Q “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” số: 3853951.20; Hợp đồng được công chứng số 2068, quyền số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/04/2020 tại Văn phòng C1.
Nội dung của “Hợp đồng tín dụng”, “Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” các bên thỏa thuận về hạn mức vay; Mục đích vay; Lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả; thời hạn có hiệu lực của hạn mức; Phương thức giải ngân; Kỳ hạn thanh toán; Trường hợp thu nợ trước hạn; Trường hợp được coi là vi phạm hợp đồng; Xử lý vi phạm hợp đồng; Biện pháp bảo đảm, tài sản bảo đảm, nghĩa vụ bảo đảm; Quyền và nghĩa vụ của các bên... “Hợp đồng thế chấp” được chứng nhận tại Văn phòng C1; Tài sản bảo đảm thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp và đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký QSDĐ - Phòng TNMT thành phố T.
Thỏa thuận của các bên tại các hợp đồng nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, giả tạo, không vi phạm điều cấm của luật; Chủ thể giao kết Hợp đồng hợp lệ; Nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó các hợp đồng trên có hiệu lực.
[4] Về nội dung yêu cầu của VIB
VIB yêu cầu bà Bùi Thị T và ông Lê Hữu Đ trả cho VIB số tiền nợ tính đến ngày 18/6/2025 là là 1.298.907.163đ (Trong đó nợ gốc 900.000.000đ; nợ lãi trong hạn 7.282.417; nợ lãi quá hạn: 391.624.746). Đồng thời yêu cầu ông Đ bà T phải tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng đã ký kể từ ngày 19/6/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký. Trường hợp ông Đ bà T không trả đủ số tiền nợ phát sinh theo hợp đồng thì V1 yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp đã ký giữa ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G với V1 để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ trả nợ thì ông Đ bà T phải trả tiếp số nợ còn lại
HĐXX xét,
Về hợp đồng tín dụng: Ông Đ bà T đã ký với V1 các văn bản tín dụng gồm: “Hợp đồng tín dụng” số 2826423.20 ngày 28/4/2020; Và 02 “Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” (số B(2).20 ngày 27/04/2021 và số: 2826423(3).20 ngày 28/04/2021). Tại các văn bản tín dụng này các bên thỏa thuận bà T ông Đ có nghĩa vụ thanh toán lãi cho V1 vào ngày 28 hàng tháng và thanh toán tiền gốc vào ngày 27 và 28/4/2022 (theo mục 2.8 của “Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ”); Các bên cũng thỏa thuận VIB có quyền chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn nếu bên vay không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận (Mục 4.3 Điều 4 bản “Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng” (đính kèm hợp đồng tín dụng)
Quá trình thực hiện hợp đồng V1 đã giải ngân cho ông Đ bà T số tiền 900.000.000đ; Ông Đ bà T đã trả cho VIB một phần tiền lãi; Từ tháng 5/2022 đến nay ông Đ bà T không trả nợ gốc, nợ lãi cho V1. Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bà Bùi Thị T cũng xác nhận tính đến ngày 18/6/2025 ông Đ bà T còn nợ VIB số tiền gốc là 900.000.000₫ và tiền lãi phát sinh từ ngày 29/4/2022.
Như vậy ông Đ bà T đã vi phạm thỏa thuận về thanh toán tại mục 1.5 “Hợp đồng tín dụng”; Mục 4.1 Điều 4 bản “Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng”; Mục 2.8 của “Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ”. Vì vậy VIB có quyền tính lãi quá hạn theo mục 4.3 Điều 4 bản “Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng"
Về Hợp đồng thế chấp: Ngày 28/04/2020 ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G đã ký với V1 “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” số: 3853951.20, tự nguyện thế chấp tài sản của ông bà là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 811, tờ bản đồ số 2; Diện tích 203m²; Địa chỉ thửa đất: Xóm T, thị trấn N, huyện Đ (nay là SN A, phố Q, phường A, thành phố T) tỉnh Thanh Hóa để đảm bảo cho khoản vay của bà T ông Đ tại V1.
Tại mục 9.1.1; 9.2; 9.4 Điều 9 của hợp đồng thế chấp các bên thỏa thuận VIB được quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp xảy ra sự kiện vi phạm là: Bên C không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn phải thanh toán theo hợp đồng tín dụng; Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ trả nợ thì bên vay tiếp tục trả số nợ còn thiếu
Như vậy yêu cầu của V1 là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận của các bên tại các văn bản tín dụng; Hợp đồng thế chấp đã ký; Phù hợp Điều 100, 103 - Luật các tổ chức tín dụng; Điều 466, 468 - BLDS nên HĐXX chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu đòi nợ của V1 được Tòa án chấp nhận vì vậy ông Đ bà T phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định tại Điều 24; khoản 2 Điều 26; khoản 2 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016
Dành quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì những lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 - BLTTDS.
Điều 299; 317; 320; khoản 7 Điều 323; Điều 463; Điều 466 - Bộ luật dân sự;
Điều 100,103 - Luật các tổ chức tín dụng
Điều 24; khoản 2 Điều 26; khoản 2 Điều 27 - NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án
Xử: Chấp nhận yêu cầu của V1.
Buộc ông Lê Hữu Đ bà Bùi Thị T có nghĩa vụ thanh toán cho V1 toàn bộ số nợ phát sinh theo “Hợp đồng tín dụng” số 2826423.20 ngày 28/4/2020; “Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” số 2826423(2).20 ngày 27/04/2021; Và “Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ” số: 2826423(3).20 ngày 28/04/2021 ký kết giữa ông Lê Hữu Đ bà Bùi Thị T với V1. Số nợ tính đến ngày 18/6/2025 là 1.298.907.163₫ (Trong đó nợ gốc 900.000.000đ; nợ lãi trong hạn 7.282.417đ; nợ lãi quá hạn 391.624.746đ). Đồng thời ông Lê Hữu Đ bà Bùi Thị T phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và các Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ (nêu trên) kể từ ngày 19/6/2025 cho đến khi ông Đ bà T thực tế trả hết nợ cho V1.
Trường hợp ông Lê Hữu Đ bà Bùi Thị T không trả đủ số tiền nợ nêu trên thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 811, tờ bản đồ số 2; Diện tích 203m²; Địa chỉ thửa đất: Xóm T, thị trấn N, huyện Đông Sơn (nay là SN 104, phố Q, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa) tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 731073 do UBND huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/11/2008 mang tên ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G, theo “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” số 3853951.20 ngày 28/04/2020 giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Bùi Đăng M1 và bà Lê Thị G, được công chứng số 2068, quyền số 02 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 28/04/2020 tại Văn phòng C1 để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm (nêu trên) không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Đ bà T có nghĩa vụ trả hết số nợ còn lại cho V1.
Về án phí: Ông Lê Hữu Đ bà Bùi Thị T liên đới chịu 50.967.215đ tiền án phí KDTM sơ thẩm có giá nghạch. VIB không phải chịu án phí và được nhận lại 24.236.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002263 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa.
Về quyền kháng cáo: V1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Lê Hữu Đ, bà Bùi Thị T, ông Bùi Đăng M1, bà Lê Thị G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 10/2025/KDTM-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 10/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng QT - Bùi Thị T (Tranh chấp HĐTD)
