Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/KDTM-PT

Ngày: 09/12/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung;

Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương

Bà Hoàng Thị Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Mai Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 06/2025/TLPT-KDTM ngày 20/10/2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bản án số 09/2025/KDTM-ST, ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2025/QĐ-PT ngày 07/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐ-PT ngày 27/11/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB).

Người đại diện theo pháp luật: ông Lưu Trung T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền:

  • - Bà Phí Thị Thu H - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ ngân hàng TMCP Q (Có mặt).
  • - Ông Nguyễn Văn K - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP Q (Vắng mặt).

Địa chỉ hiện nay: Số A G, phường Ô, thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Công ty TNHH S.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh C - Chức vụ: Giám đốc

Địa chỉ: Tiểu khu T, xã H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1983 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1984 - Cùng địa chỉ: Tiểu khu T, xã H, tỉnh Thanh Hóa, (Đều có mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1948 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn P, xã L, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

Ngày 25/12/2023, Ngân hàng TMCP Q (M), chi nhánh T1 (M) cho Công ty TNHH S vay tiền, hai bên đã ký Hợp đồng cấp tín dụng số 180480.23.840.21146165.TD ngày 25/12/2023 theo đó Ngân hàng Q cho Công ty TNHH S vay tiền, được giải ngân theo các khế ước vay, cụ thể: Ngày 02/01/2024, khế ước vay số LD2400209443, số tiền giải ngân là 145.000.000 đồng; ngày 03/01/2024, khế ước vay số LD2400366050, số tiền giải ngân là 500.000.000 đồng; ngày 04/01/2024, khế ước vay số LD2400496012, số tiền giải ngân là 390.000.000 đồng; Ngày 05/01/2024, khế ước vay số LD2400540500, số tiền giải ngân là 385.000.000 đồng; ngày 08/01/2024, khế ước vay số LD2400844582, số tiền giải ngân là 330.000.000 đồng; ngày 09/01/2024, khế ước vay số LD2400961864, số tiền giải ngân là 540.000.000 đồng; ngày 10/01/2024, khế ước vay số LD2401001019, số tiền giải ngân là 540.000.000 đồng; ngày 11/01/2024, khế ước vay số LD2401147051, số tiền giải ngân là 345.000.000 đồng. Tổng số tiền vay là 3.130.000.000 đồng, lãi suất theo từng khế ước nhận nợ, thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày nhận nợ, mục đích vay là để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm gỗ làm từ tre, nứa.

Để đảm bảo cho các hợp đồng vay trên, anh C và chị L đã đồng ý cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn S thế chấp cho Ngân hàng: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 79, tờ bản đồ số 14; Địa chỉ: xã Q, huyện Q (nay là xã L), tỉnh Thanh Hóa; Diện tích: 996,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV741602, số vào sổ cấp GCN: CH-02514 do UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 12/10/2020 cho ông Nguyễn Mạnh C và bà Hoàng Thị L.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH S đã vi phạm hợp đồng kể từ ngày 25/5/2024. Tính đến ngày 25/7/2025 công ty TNHH S còn dư nợ là 3.505.441.825 đồng. Trong đó: nợ gốc là 3.129.780.000 đồng; lãi trong hạn 41.419.192 đồng; lãi quá hạn 329.651.079 đồng; lãi chậm trả là 4.591.554 đồng.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, Ngân hàng TMCP Q đề nghị Tòa án buộc Công ty TNHH S thực hiện nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền còn nợ trên cho Ngân hàng TMCP Q và tiếp tục tính lãi kể từ ngày 26/7/2025 theo lãi suất đã ký tại hợp đồng tín dụng cho đến khi Công ty trách nhiệm hữu hạn S trả hết nợ.

Kể từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà công ty TNHH S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho MB, gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 79; Tờ bản đồ số 14; Địa chỉ: Xã Q, huyện Q (nay là xã L), tỉnh Thanh Hóa; Diện tích: 996,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV741602, số vào sổ cấp GCN: CH - 02514 do UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 12/10/2020 cho ông Nguyễn Mạnh C và bà Hoàng Thị L. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 78344.22.840.21146165.BD ngày 06/09/2022 được công chứng tại Văn phòng C2 theo số công chứng 9961; quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD cùng ngày. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH S đối với Ngân hàng TMCP Q. Nếu số tiền thu được không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty TNHH S vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng MB. Công ty TNHH S phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Đối với yêu cầu của bà C1 về việc: “Trường hợp Ngân hàng đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thì yêu cầu Ngân hàng phải trả lại tài sản trên đất cho bà, giá trị tài sản là 700.000.000 đồng”, Ngân hàng không đồng ý với ý kiến của bà châu và bị đơn vì theo mục 1.1 Điều 1 của hợp đồng thế chấp mà hai bên đã ký kết quy định “.. Các tài sản sau đây (nếu có) cũng thuộc tài sản thế chấp: Vật phụ của tài sản thế chấp, hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp; toàn bộ quyền thụ hưởng bảo hiểm và các lợi ích của bên thế chấp theo hợp đồng bảo hiểm; toàn bộ số tiền, lợi ích tài sản được đền bù, bồi thường, bồi thường thiệt hại, thay thế, hoàn trả mà bên thế chấp được nhận; toàn bộ tài sản mới được hình thành do việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc trộn lẫn tài sản thế chấp với tài sản khác hoặc tài sản thế chấp chế biến tạo thành sản phẩm mới; công trình xây dựng (bổ sung, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa) đã, đang, sẽ hình thành sau thời điểm ký Hợp đồng này gắn liền với tài sản thế chấp và các trang thiết bị kèm theo công trình xây dựng (sau đây gọi là tài sản thế chấp).

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ nên đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải chịu.

Tại bản khai đề ngày 18/7/2025, đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Mạnh C trình bày: Ngày 25/12/2023 ông có ký kết hợp đồng tín dụng vay vốn với Ngân hàng TMCP Q, Chi nhánh T1 với số tiền vay là 3.130.000.000 đồng, mục đích vay là để sản xuất kinh doanh sản phẩm gỗ theo hợp đồng số 180480.23.840.21146165.TD. Tuy nhiên, do làm ăn kinh tế khó khăn nên hiện nay ông C không còn khả năng trả nợ, ông C đề nghị Ngân hàng tiếp tục khoanh nợ để ông có thời gian cơ cấu trả nợ, nếu Ngân hàng cương quyết kê biên tài sản để thanh toán nợ thì anh đề nghị trả lại giá trị tài sản trên đất cho mẹ vợ ông vì khi bố mẹ vợ tặng cho vợ chồng ông thửa đất không bao gồm tài sản trên đất, ông C đề nghị Ngân hàng giảm một phần lãi cho công ty.

Tại bản khai đề ngày 18/7/2025, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị L trình bày: Ngày 25/12/2023, bà có ký hợp đồng thế chấp, đồng ý cho Công ty TNHH S thế chấp thửa đất số 79, tờ bản đồ số 14 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã L, tỉnh Thanh Hóa) để vay số tiền 3.130.000.000 đồng, bà L chỉ đồng ý thế chấp đất còn phần tài sản trên đất là của bố mẹ bà vì khi tặng cho, bố mẹ bà chỉ tặng cho đất còn những tài sản trên đất bà không có quyền thế chấp. Nếu Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm thì phải trả lại giá trị tài sản trên đất cho bố mẹ bà.

Tại các biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị C1 trình bày: Hiện nay, bà là người đang sinh sống trên thửa đất số 79, tờ bản đồ số 14 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã L, tỉnh Thanh Hóa). Thửa đất này là của vợ chồng bà, gia đình bà sinh sống từ năm 1975, sau đó vợ chồng bà tặng cho con gái là Hoàng Thị L. Tuy nhiên, vợ chồng bà chỉ tặng cho đất mà không cho các tài sản trên đất vì vợ chồng bà vẫn đang sinh sống trên thửa đất này, hiện tại trên đất có 01 nhà cấp bốn mái tôn, 01 nhà mái bằng xây dựng năm 2006 và các tài sản khác là 100m² mái tôn ở sân, 01 giếng khoan, tường rào, 01 bể nước, cổng, cây cối trên đất là tài sản hợp pháp của vợ chồng bà nhưng chồng bà đã chết năm 2021 nên hiện nay tài sản do bà quản lý. Nếu Ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nợ, bà C1 đề nghị Ngân hàng phải trả cho bà các tài sản trên đất trị giá là 700.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Toà án buộc Công ty TNHH S thực hiện nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP Q, tính đến ngày 09/9/2025 là 3.547.372.335 đồng, Trong đó: nợ gốc là 3.129.780.000 đồng; lãi trong hạn 41.419.191 đồng; lãi quá hạn 371.036.900 đồng; lãi chậm trả là 5.136.243 đồng và tiếp tục tính lãi kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất đã ký tại hợp đồng tín dụng cho đến khi Công ty trách nhiệm hữu hạn S trả hết nợ. Trường hợp công ty TNHH S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng TMCP Q, gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 79; Tờ bản đồ số 14; Địa chỉ: Xã Q, huyện Q (nay là xã L), tỉnh Thanh Hóa; Diện tích: 996,5 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV741602, số vào sổ cấp GCN: CH-02514 do UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 12/10/2020 cho ông Nguyễn Mạnh C và bà Hoàng Thị L. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 78344.22.840.21146165.BD ngày 06/09/2022 được công chứng tại Văn phòng C2 theo số công chứng 9961; quyển số 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD cùng ngày.

Bị đơn giữ nguyên quan điểm, đề nghị Ngân hàng nếu xử lý tài sản bảo đảm thì phải trả lại giá trị tài sản trên đất cho bà C1 theo giá khi cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề là bà Nguyễn Thị Châu N Ngân hàng TMCP Q phải trả cho bà giá trị tài sản trên đất theo giá khi cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm.

Tại bản án số 09/2025/DS-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa đã Quyết định: Căn cứ các Điều 299, 320, 322 và 323 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 của Luật ngân hàng N1; các Điều 100, 102; 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 144, 147, 157 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3, 6, điểm b, khoản 1, Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.

Buộc Công ty TNHH S phải trả toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP Q, tổng số tiền tính đến ngày 09/9/2025 là 3.547.372.335₫ (Ba tỷ năm trăm bốn bảy triệu ba trăm bảy hai nghìn ba trăm ba lăm đồng). Trong đó: nợ gốc là 3.129.780.000₫ (Ba tỷ một trăm hai chín triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); lãi trong hạn 41.419.191₫ (Bốn mốt triệu bốn trăm mười chín nghìn một trăm chín mốt đồng); lãi quá hạn 371.036.900₫ (Ba trăm bảy mốt triệu không trăm ba sáu nghìn chín trăm đồng); lãi chậm trả là 5.136.243đ (Năm triệu một trăm ba sáu nghìn hai trăm bốn ba đồng). Công ty trách nhiệm hữu hạn S phải tiếp tục trả lãi kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (09/9/2025) theo lãi suất thoả thuận giữa các bên tại hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật mà công ty TNHH S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 79; Tờ bản đồ số 14; Địa chỉ: Xã Q, huyện Q (nay là xã L), tỉnh Thanh Hóa; Diện tích: 996,5 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV741602, số vào sổ cấp GCN: CH - 02514 do UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 12/10/2020 cho ông Nguyễn Mạnh C và bà Hoàng Thị L, trong đó: Toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất khi Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản bảo đảm được dùng để trả toàn bộ các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q, trường hợp còn thiếu thì Công ty TNHH S phải tiếp tục trả cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ, trường hợp thừa thì trả lại cho ông C, bà L; bà Nguyễn Thị C1 được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng thửa đất này, trường hợp không nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì được thanh toán giá trị các tài sản trên đất khi Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý tài sản bảo đảm.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị miễn lãi suất cho bị đơn do hiện nay bị đơn đang gặp khó khăn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Các bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án, không đương sự nào cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
  • - Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Giữ nguyên Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2025/KDTM-ST ngày 09/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thanh Hóa
  • + Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX căn cứ NQ 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án để xem xét và quyết định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn có đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 273; Điều 276; Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Xét nội dung kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn S :

[2.1]. Ngày 25/12/2023, giữa Ngân hàng TMCP Q (M), chi nhánh T1 (M) và Công ty TNHH S đã ký Hợp đồng tín dụng số 180480.23.840.21146165.TD ngày 25/12/2023 theo đó ngân hàng Q cho Công ty TNHH S vay tiền với mức lãi suất tại thời điểm cho vay theo từng khế ước nhận nợ, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn; thời hạn vay là 6 tháng kể từ ngày nhận nợ; mục đích vay là để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm gỗ làm từ tre, nứa. Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP Q (M), chi nhánh T1 (M) đã giải ngân cho Công ty TNHH S làm 8 đợt, gồm: ngày 02/01/2024, khế ước vay số LD2400209443, số tiền giải ngân là 145.000.000; ngày 03/01/2024, khế ước vay số LD2400366050, số tiền giải ngân là 500.000.000 đồng, ngày 04/01/2024, khế ước vay số LD2400496012, số tiền giải ngân là 390.000.000 đồng; ngày 05/01/2024, khế ước vay số LD2400540500, số tiền giải ngân là 385.000.000 đồng; ngày 08/01/2024, khế ước vay số LD2400844582, số tiền giải ngân là 330.000.000 đồng; ngày 09/01/2024, khế ước vay số LD2400961864, số tiền giải ngân là 540.000.000 đồng; ngày 10/01/2024, khế ước vay số LD2401001019, số tiền giải ngân là 540.000.000 đồng; ngày 11/01/2024, khế ước vay số LD2401147051, số tiền giải ngân là 345.000.000 đồng. Tổng số tiền vay là 3.130.000.000 đồng.

[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH S đã vi phạm hợp đồng về cam kết trả nợ gốc và lãi định kỳ như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 25/5/2024. Ngân hàng TMCP Q đã chuyển toàn bộ (các) khoản nợ sang quá hạn và yêu cầu thu hồi toàn bộ các khoản nợ mặc dù chưa đến hạn trả nợ là hoàn toàn phù hợp với thỏa thuận của các bên được quy định tại điều 4 và điều 6 của văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng số 180480.23.840.21146165.TD ngày 25/12/2023. Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP Q yêu cầu Công ty TNHH S phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi tính đến ngày 09/9/2025 là 3.547.372.335 đồng, trong đó: nợ gốc là 3.129.780.000 đồng; lãi trong hạn 41.419.191 đồng, lãi quá hạn 371.036.900 đồng; lãi chậm trả là 5.136.243 đồng và tiếp tục tính lãi kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất đã ký tại hợp đồng tín dụng cho đến khi Công ty trách nhiệm hữu hạn S trả hết nợ.

[3]. Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu về lãi suất của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) là có căn cứ pháp luật bởi lẽ:

[3.1]. Hợp đồng tín dụng ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) và bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn S là tự nguyện, đúng thẩm quyền, nội dung và hình thức phù hợp quy định pháp luật. Hai bên đã thỏa thuận số tiền vay, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, thời hạn vay, nghĩa vụ trả nợ.

[3.2]. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty trách nhiệm hữu hạn S không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

[3.3]. Việc tính lãi trong hạn, quá hạn của Ngân hàng Q (M) phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên và quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3.4]. Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn S không chứng cứ chứng minh việc Ngân hàng Q (MB) áp dụng lãi suất trái pháp luật hoặc có hành vi vi phạm quy định cho vay. Bản án sơ thẩm buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn S phải thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận là phù hợp Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết HĐTP số 01 ngày 11/1/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao và đúng pháp luật.

[3.5]. Kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn S không được chấp nhận.

[4] Về án dân sự phúc thẩm: Công ty trách nhiệm hữu hạn S kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí lệ phí Tòa án kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn;

2. Giữ nguyên bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2025/KDTM-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thanh Hóa, cụ thể như sau:

Căn cứ các Điều 299, 320, 322 và 323 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 của Luật ngân hàng N1; các Điều 100, 102; 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 144, 147, 157 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3, 6, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc Công ty TNHH S phải trả toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP Q, tổng số tiền tính đến ngày 09/9/2025 là 3.547.372.335₫ (Ba tỷ năm trăm bốn bảy triệu ba trăm bảy hai nghìn ba trăm ba lăm đồng). Trong đó: nợ gốc là 3.129.780.000₫ (Ba tỷ một trăm hai chín triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); lãi trong hạn 41.419.192đ (Bốn mốt triệu bốn trăm mười chín nghìn một trăm chín hai đồng); lãi quá hạn 371.036.900đ (Ba trăm bảy mốt triệu không trăm ba sáu nghìn chín trăm đồng); lãi chậm trả là 5.136.243đ (Năm triệu một trăm ba sáu nghìn hai trăm bốn ba đồng). Công ty trách nhiệm hữu hạn S phải tiếp tục trả lãi kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (09/9/2025) theo lãi suất thoả thuận giữa các bên tại hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ.

- Về Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc Công ty TNHH S phải trả cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).

- Về án phí sơ thẩm: Công ty TNHH S phải chịu 102.947.440đ (Một trăm linh hai triệu chín trăm bốn bảy nghìn bốn trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 48.372.000đ (Bốn mươi tám triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004853 ngày 16/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Thanh Hoá).

3. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn (Công ty trách nhiệm hữu hạn S) phải chịu 2.000.000đ án phí DSPT, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000đ theo biên lai thu số 0000859 ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá (P10);
  • - VKSND Khu vực 6 – Thanh Hóa;
  • - TAND Khu vực 6 - Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/KDTM-PT ngày 09/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 10/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Q khởi kiện đề nghị công Ty S thanh toán tiền nợ gốc và lãi suất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger