Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM


Bản án số: 10/2025/HSST

Ngày 27 tháng 02 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tặng và ông Hoàng Văn Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 2 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2023/HS-ST ngày 20 tháng 1 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Vũ Trường G, sinh năm 2004, tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn C, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn X và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2024 đến ngày 07/8/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

  2. Nguyễn Thế H, sinh năm 2002, tại tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thế T1 (đã chết) và bà Vũ Thị A; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 13/11/2019, Công an huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc số tiền 500.000 đồng (Ngày 22/11/2019 đã chấp hành Quyết định xử phạt).

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2024 đến ngày 07/8/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

  3. Lê Văn T2, sinh năm 1998, tại tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Không; Con ông Lê Văn T3 và bà Lâm Thị T4; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2024 đến ngày 07/8/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

  4. Nguyễn Quang T5, sinh năm 2003, tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn F, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quang T6 (đã chết) và bà Trần Thị H1; Vợ: Phạm Thị M; con: 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 06/7/2023, Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng số tiền 400.000 đồng (Ngày 06/7/2023 đã chấp hành Quyết định xử phạt).

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2024 đến ngày 07/8/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

  5. Vũ Văn V, sinh năm 1997, tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn C, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn C và bà Trần Thị H2; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/11/2024 đến ngày 22/11/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

  6. Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 2002, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Chỗ ở: Thôn N, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc S (đã chết) và bà Hồ Thị Q; Chồng, chưa có, con: có 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2024 đến ngày 11/8/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

  7. Nguyễn Ngọc A1, sinh ngày 25/9/2007, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Tổ dân phố số C, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân L và bà Nguyễn Thị T7; Chồng, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/08/2024 đến ngày 07/11/2024 bị cáo được tại ngoại (Do áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh từ ngày 07/11/2024). Có mặt.

    Đại diện hợp pháp (bố đẻ): ông Nguyễn Xuân L1 năm, 1984. Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

  8. Đào Anh T8, sinh năm 2004, tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Nơi cư trú: Thôn V, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam; Chỗ ở : Tổ dân phố số C, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn T9 và bà Trần Thị Q1; Chồng: chưa có; con: Có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 02/8/2024 đến ngày 10/8/2024 được tại ngoại (Do được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/8/2024). Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
  2. Anh Hoàng Minh V1, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn M, xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
  3. Anh Hoàng Văn L2, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn M, xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
  4. Anh Hoàng Văn T10, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn M, xã X, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
  5. 5/ Chị Đỗ Thị T11, sinh năm 2008; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
  6. 6/ Anh Hà Văn T12, sinh năm 1993; Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  7. 7/ Chị Ksor H3, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  8. 8/ Chị Nguyễn Thị Hồng T13, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  9. 9/ Chị Trần Kiều O, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  10. 10/ Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn D, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
  11. 11/ Chị Nguyễn Thị T14, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.
  12. 12/ Chị Lò Thị S1, sinh năm 2004; địa chỉ: Bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
  13. 13/ Chị Nguyễn Thị Phương L3, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Quang M1 và anh Nguyễn Như L4, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy giữa Nguyễn Quang T5,Vũ Trường G, Nguyễn Thế H và Lê Văn T2 như sau:

    Trước đó Nguyễn Quang T5 đã nhiều lần bán ma túy cho C2 (không rõ nhân thân lai lịch). Khoảng 17 giờ ngày 28/7/2024, Nguyễn Quang T5 đang làm việc tại Công ty M4 thuộc khu Công nghiệp Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam thì C2 gọi Z cho T5 hỏi mua nửa uốn ma túy ke (tức khoảng 11 chỉ ma túy ke), T5 đồng ý và báo giá “Tầm mười sáu đến mười bảy triệu”, C2 nói “Có gì tối anh gọi lại”. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày 28/7/2024, C2 gọi điện qua Z cho Nguyễn Quang T5 nói “Lấy cho anh nửa uốn ke và sáu viên kẹo, anh chuyển trước mười một triệu, còn lại anh đưa tiền mặt”, T5 đồng ý.

    Sau đó Nguyễn Quang T5 gọi Zalo cho bạn Vũ Trường G (ở cùng xã N) nói “Bạn lấy hộ nửa uốn ke và sáu viên kẹo”, G đồng ý nói “OK”. Vũ Trường G nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Nguyễn Thế H (là nhân viên phục vụ tại quán K ở khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên) với nội dung “Bảo xe mang về cho tôi nửa U ke kim tuyến và sáu viên kẹo”; khi đó có bạn là Vũ Văn V gọi điện rủ G tụ tập sử dụng ma túy, V bảo G “Chỗ nào rẻ hơn thì lấy, lấy bốn viên, bốn chỉ”, G đồng ý. Để có ma túy sử dụng với nhóm của V, G đặt mua thêm của Nguyễn Thế H 04 viên ma túy kẹo và 07 chỉ ma túy ke đá, tổng tiền G mua nửa U ke kim tuyến và 06 viên kẹo và 04 viên ma túy kẹo và 07 chỉ ma túy ke đá (tức10 viên ma túy kẹo, 19 chỉ ma túy ke) là 16.200.000 đồng. Sau khi đặt mua ma túy của H, G gọi điện M2 lại cho Nguyễn Quang T5, nói “Nửa uốn ke và sáu viên kẹo giá là 16.200.000 đồng”, T5 đồng ý nói “OK”, sau đó T5 gọi lại cho Công báo giá như vậy thì C2 nói “OK, anh chuyển trước 11.500.000 đồng, còn lại qua nhà lấy tiền mặt”, T5 nhắn tin số tài khoản 1023795816, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 (V2) của T5 cho C2, sau đó C2 chuyển cho T5 số tiền 11.500.000 đồng.

    Khi đó Nguyễn Thế H ngồi chơi với Lê Văn T2 tại quán K, do trước đó H nhiều lần giao cho T2 sang Hà Nam bán ma túy cho G nên H nói với T2“Anh cầm cái này mang sang cho G giúp em”, T2 hiểu ý H nhờ mang ma túy sang tỉnh Hà Nam để bán cho G, T2 đồng ý và đi về nhà lấy xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu trắng, biển kiểm soát 89A-352.77 của T2 rồi quay lại quán K gặp H, H đưa cho T2 01 hộp carton bên trong có chứa ma túy, T2 cầm hộp carton lên xe ô tô biển kiểm soát 89A – 352.77 điều khiển đi sang Hà Nam bán cho G.

    Trên đường đi, Lê Văn T2 nhận được tin nhắn của G gửi vị trí qua Zalo cho T2 rồi nói “Anh T2 ơi, anh đến đâu rồi”, T2 bảo “Anh gần đến rồi”, G nói “Trong cái của em có nửa U kim, 07 chỉ đá và 10 viên kẹo, anh chia ra hộ em, em lấy hai chỗ”, T2 nói “Anh không biết chia”, G nói “Anh cho 07 chỉ đá với 04 viên kẹo ra một túi mang qua quán K1, còn 06 viên kẹo với nửa U kim anh chia ra một túi”, T2 nói “Giao hai chỗ là thêm tiền đấy”, G đồng ý nói “Oke anh, em gửi anh một triệu”. Khi đến cửa quán K2, Thoại mở hộp ma túy chia 07 túi nilon bên trong có ma túy ke và 04 viên ma túy kẹo cuốn vào tờ giấy rồi bỏ vào hộp carton, rồi chụp ảnh gửi cho G thì G bảo T2 để hộp ma túy ở chậu cây trước cửa quán K2, T2 để hộp ma túy trên bồn cây trước của quán K2 Q9 theo yêu cầu của G; còn lại 06 viên ma túy kẹo được cuốn trong một tờ giấy nhỏ và nửa Uốn ma túy ke kim tuyến được đựng trong 01 túi nilon, T2 cuốn lại trong một tờ giấy ăn và để trên xe ô tô, khi đó G nhắn tin cho T2 số điện thoại của Nguyễn Quang T5 để T2 mang ma tuý đến cho T5, T2 nhắn tin cho T5 và bảo T5 gửi vị trí và gọi điện bảo T5 chuyển khoản trả tiền mua ma túy, đồng thời gửi số tài khoản của Nguyễn Thế H cho T5, T5 sử dụng tài khoản của mình số 1023795816 Ngân hàng V2 chuyển số tiền 11.000.000 đồng vào số tài khoản 7400100108888 Ngân hàng M5 của H. Sau khi nhận được tiền từ T5, H nhắn tin cho T2 hỏi “Bao nhiêu tiền xe em gửi”, T2 trả lời “Một triệu”, H dùng số tài khoản của mình chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào số tài khoản 866661998 Ngân hàng M5 của T2. Sau đó, T2 tiếp tục điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 89A- 352.77 đến chỗ vị trí của T5 và để gói ma túy xuống đất thì T5 đến nhặt gói ma túy, rồi bảo T2 “Anh chở em ra kia em đưa đồ cho ông anh”, hiểu ý T5 bảo chở đi giao ma túy nên T2 đồng ý rồi điều khiển xe ô tô chở T5 đến địa phận xã H, huyện K, tỉnh Hà Nam. Khi T5 xuống xe ô tô để chuẩn bị giao ma túy thì bị cơ quan công an phát hiện đưa về trụ sở Công an xã H lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang khám xét và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

  2. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Vũ Văn V, Vũ Trường G, Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Ngọc A1 tại quán K2 (trước đây là quán K1) ở phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam như sau:

    Khoảng 20 giờ 00 ngày 28/7/2024, Vũ Văn V nhắn tin qua M3 rủ Vũ Trường G tối nay đi sử dụng ma túy, G đồng ý và trả lời “Có mấy người anh?”, V nói “Có hai anh em mình”, G trả lời “Thế thì tốn tiền lắm em không đi đâu”. Nghe thấy vậy, V gọi điện qua Z rủ Nguyễn Quang M1 nói “Anh ơi, đi lên quán L5 đi”, hiểu ý V rủ sử dụng ma túy nên M1 nói “Anh không có tiền” thì V nói “Em lo cho anh”, hiểu ý V mời sử dụng ma túy nên M1 đồng ý; V tiếp tục gọi điện rủ Nguyễn Như L4 và nói “Anh em mình đi chơi tí, có cả M1 đi cùng”, L4 biết V rủ đi hát karaoke nên đồng ý. Sau đó V gọi điện lại cho G, nói “Anh vừa rủ cả L4 và M1 đấy, anh em mình sang Lê Gia B” thì G nói “Vâng, lấy đồ chỗ em nhé”, V đồng ý và nói “Chỗ nào rẻ hơn thì lấy, lấy bốn viên, bốn chỉ”, ý V bảo G mua 04 viên ma túy kẹo và 04 chỉ ma túy ke và G nói “Vâng” rồi tiếp tục nhắn tin cho Nguyễn Thế H để mua thêm 04 viên ma túy kẹo và 07 chỉ ma túy ke đá, H báo tổng tiền mua ma túy là 16.200.000 đồng như tại mục 01 nêu trên.

    Sau đó V tiếp tục nhắn tin rủ Nguyễn Thị Cẩm N lên quán K2 chơi, N đồng ý, V bảo N tí có người đến đón; N nhắn tin rủ Nguyễn Thị Hồng T13 là bạn đang làm phục vụ ở quán K3 ở thôn N, xã N đi cùng thì T13 đồng ý. Võ gọi điện bảo L4 “Lát đi thì đón M1, G và khi nào đến quán K3 ở N thì đón một bạn nhân viên nữ đi cùng”. L4 gọi xe taxi đến đón, khi đang đợi xe thì gặp Nguyễn Quang M1 rồi L4 và M1 cùng lên xe taxi đến đón G và đến quán K3 đón N và T13 rồi tất cả cùng đến quán K2.

    Khoảng 22 giờ cùng ngày, V thuê xe taxi từ nhà nghỉ ở khu vực thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên đi đến quán K2. Trên đường đi, V dùng điện thoại (số thuê bao 0963.976.xxx) gọi điện vào số 0922.328.328 (số quầy lễ tân của quán K2) để đặt phòng sử dụng ma túy, lúc này Hoàng Minh V1 (là quản lý của quán) nghe máy, V nói “Còn phòng không để cho một phòng”, hiểu ý Võ đặt phòng để sử dụng ma túy nên V1 nói còn phòng và bảo V khi nào đến quán thì gọi để mở cửa. Khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, khi Vũ Văn V gần đến quán K2 thì G gọi điện M3 cho V, bảo “Em bảo người để hộp đồ ở chậu cây trước cửa quán, anh lấy mang lên phòng”, V nói “OK”.

    Khi đến nơi Võ tìm thấy một hộp carton dạng bao thuốc lá trong có ma túy theo như G bảo, V cầm trên tay rồi gọi điện vào số 0922.328.328 của quầy lễ tân của quán Karaoke KTV Q9 bảo mở cửa thì V1 nghe máy. Sau đó, V1 bảo Hoàng Văn L2 và Hoàng Văn T10 cùng xuống mở cửa quán (T10 và L2 là nhân viên dọn dẹp của quán K2), khi V vào bên trong thì L2 khóa cửa rồi T10 mới tiếp tục mở cửa sắt gần cầu thang, mục đích mở hai cửa ngoài và trong như vậy để tránh bị cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ. Khi V đến quầy lễ tân, gặp Nguyễn Ngọc C1 (là quản lý của quán), V nói “Em đặt phòng rồi, anh cho em hai nhân viên quán”, hiểu ý V bảo cho hai nhân viên nữ của quán vào phòng phục vụ việc sử dụng ma túy nên C1 nhắn tin lên nhóm Telegram “Q9 clup 6868” (là nhóm riêng của quán K2) bảo Đào Anh T8 và Đỗ Thị T11 - sinh ngày 29/8/2008 đang ở tầng 6 của quán xuống phục vụ. Sau đó, V1 bảo L2 ( là nhân viên) dẫn Võ lên phòng VIP6, lúc này trong phòng đã có sẵn 01 chiếc đĩa sứ, 01 thẻ nhựa cứng và ống hút dùng để sử dụng ma túy. Một lúc sau, M1, G, L2, N và T13 đến cửa quán K2 thì V1 tiếp tục bảo L2 xuống mở cửa, L2 và T10 cùng xuống mở cửa quán như lần trước.

    Nhóm L2, G, M1, N và T13 vào quán rồi đi lên phòng VIP 6. Khi vào phòng VIP 6, V đưa cho G hộp carton dạng vỏ bao thuốc lá bên trong có ma túy, G cầm và đổ hết ra mặt bàn trong phòng thì có 04 viên ma túy kẹo và 07 túi nilon chứa ma túy ke. G cầm 01 viên ma túy kẹo, số còn lại G đưa cho V và nói “Chơi hết đi anh” nhưng V chỉ cầm 03 viên ma túy kẹo và 05 túi ma túy ke và nói “Chơi thế này thôi” nên G cầm lại 02 túi ma túy ke cất vào túi quần đùi bên trái đang mặc với mục đích để lần sau sử dụng. Sau đó, V để 02 viên ma túy kẹo trên mặt bàn và 05 túi ma túy ke ở mép bàn, còn 01 viên ma túy kẹo Võ bẻ thành 03 mảnh, V sử dụng một mảnh bằng cách cho vào miệng uống cùng nước lọc, còn 02 mảnh Võ đưa cho N để N sử dụng, N cho 01 mảnh vào miệng uống cùng nước lọc, còn 01 mảnh N đưa cho T13, T13 sử dụng bằng cách cho vào miệng và uống cùng nước lọc. L2 tự lấy 01 viên kẹo bẻ làm đôi sử dụng một nửa viên bằng cách cho vào miệng uống nước lọc, còn nửa viên để lại trên bàn.

    Một lúc sau, Đào Anh T8 đi xuống quầy lễ tân gặp V1 thì V1 bảo T8 lên phục vụ khách ở phòng VIP 6, hiểu ý V1 bảo lên phục vụ khách sử dụng ma túy, T8 đồng ý và đi lên phòng VIP 6. Sau đó, T11 đi xuống quầy lễ tân gặp V1, V1 tiếp tục bảo T11 lên phòng VIP 6 phục vụ khách sử dụng ma túy. Khi vào phòng thì T11 ngồi cạnh G. Lúc này, có người bảo T11 “Xào đồ đi em”, G chỉ vào mép bàn nói “Ke ở đây”. Thêm thấy ở mép bàn có các túi nilon bên trong có ma túy ke nên lấy 01 túi rồi nhờ G mở hộ, G cầm túi ma túy ke đổ ra đĩa thì T11 dùng thẻ cứng có sẵn trên đĩa để xào số ma túy ke này để mọi người trong phòng sử dụng. Xào xong, T11 kẻ 02 đường ma túy ke rồi để đĩa ma túy ke xuống mặt bàn và ra ghế ngồi xem điện thoại. Sau đó, N lấy đĩa ma túy đã được kẻ sẵn mời G sử dụng, G dùng ống hút hít ma túy ke qua mũi vào cơ thể, T8 sử dụng 02 đường bằng hình thức hít qua mũi, N sử dụng 01 đường ma túy ke, V sử dụng 02 đường ma túy ke, M1 sử dụng 01 đường ma túy ke. Một lúc sau, do T8 bị đau bụng nên nhóm của V yêu cầu đổi nhân viên khác thì Nguyễn Ngọc C1 đã nhắn tin cho Nguyễn Ngọc A1 - sinh ngày 25/9/2007 đang ở tầng 6 của quán bảo Ngọc A1 xuống làm phục vụ khách. Ngọc A1 đi xuống quầy lễ tân ở tầng 2 thì gặp V1, V1 bảo Ngọc A1 lên phòng VIP 6 làm. Ngọc A1 vào phòng VIP 6 thì T8 đi ra (cả T8, T11 và Ngọc A1 đều là nhân viên nữ phục vụ của quán K2 và đều ăn, nghỉ tại quán). Khi vào phòng, Ngọc A1 ngồi cạnh L2 và thấy đĩa ma túy ke trên bàn nên đã kẻ 02 đường ke mời L2, L2 sử dụng 02 đường ma túy bằng hình thức dùng ống tẩu hít qua mũi. Đến khoảng 04 giờ 40 phút ngày 29/7/2024, nhóm của Võ N2 đi về. Võ xuống quầy lễ tân gặp V1 để thanh toán, V1 tính tổng cộng số tiền nhóm V phải thanh toán là 7.100.000 đồng. Sau đó, V dùng điện thoại quét mã QR ở quầy lễ tân và chuyển số tiền 7.100.000 đồng từ tài khoản của mình số 0840106926666 - Ngân hàng M6 vào số tài khoản ngân hàng B2, mang tên PHAM THI NGOC ANH. Khi nhóm của V ra ngoài cửa quán thì Cơ quan công an đã yêu cầu Vũ Trường G về làm việc, còn Vũ Văn V, Nguyễn Quang M1 và Nguyễn Như L4 lợi dụng sơ hở đã bỏ đi.

  3. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Đào Anh T8:

    Khoảng 04 giờ 40 phút ngày 29/7/2024 tại quán K2 (trước đây là quán K1) ở phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, quá trình khám xét Cơ quan công an thu giữ của Đào Anh T8 đang cất giấu 03 mảnh viên ma túy trong túi xách màu đen có khối lượng 0,692g loại MDMA. Đào Anh T8 khai cất giấu để sử dụng.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ vật chứng, khám xét khẩn cấp, lấy mẫu nước tiểu các đối tượng và mở rộng điều tra vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành thu thập các mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Ngọc A1, Đào Anh T8, Đỗ Thị T11 được niêm phong ký hiệu lần lượt là NT01, NT02, NT04, NT05 (bút lục 436-449).

Tại Bản kết luận giám định số 575/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh H, kết luận:

  • Mẫu viên nén màu cam trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 2,859g (hai phẩy tám trăm năm mươi chín gam) loại: MDMA.
  • Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 7,503g (bảy phẩy năm trăm linh ba gam) loại: Ketamine.
  • Mẫu bột màu vàng nâu trong phong bì ký hiệu “M1 ma túy trong túi quần G” gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,175g (không phẩy một trăm bảy mươi lăm gam) loại: MDMA.
  • Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu “M1 ma túy trong túi quần G” gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,756g (một phẩy bảy trăm năm mươi sáu gam) loại: Ketamine.
  • Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp (Ketamine, MDMA, Heroine, Methamphetamine... ) trong mẫu bột màu nâu trong phong bì ký hiệu KX06 gửi giám định, có khối lượng 0,461g (không phẩy bốn trăm sáu mươi mốt gam).
  • 02 (hai) túi nilon trong phong bì ký hiệu KX06 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu KX06 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,216g (một phẩy hai trăm mười sáu gam) loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 (một) thẻ nhựa cứng hình chữ nhật màu trắng trong túi niêm phong ký hiệu NS1 1914238 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa, viền màu cam; 03 (ba) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa, viền màu đỏ và 01 (một) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa, viền màu xanh trong phong bì niêm phong ký hiệu KX01 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 03 mảnh viên nén màu xám trong túi niêm phong ký hiệu NS2 23021399 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,692g (không phẩy sáu trăm chín mươi hai gam) loại: MDMA.
  • 01 (một) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ của Ngân hàng N4 trong túi niêm phong ký hiệu NS2 23021399 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa, viền màu đỏ trong túi niêm phong ký hiệu NS4A 193249 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ của Ngân hàng N4 và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5000đ trong túi niêm phong ký hiệu NS4A 193335 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 06 (sáu) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5000đ trong túi niêm phong ký hiệu NS2A 052514 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 (một) thẻ nhựa cứng hình chữ nhật màu trắng; 02 (hai) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa;01 (một) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ của Ngân hàng N4; 03 (ba) ống hút được cuộn bằng giấy màu nâu trong túi niêm phong ký hiệu NS1 1914237 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn trong túi niêm phong ký hiệu NS1 1914233 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn trong túi niêm phong ký hiệu NS1 1914236 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 (một) thẻ nhựa cứng có chữ vinaphone; 01 (một) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa; 01 (một) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đ của Ngân hàng N4 trong túi niêm phong ký hiệu NS1 1914222 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 (một) thẻ nhựa cứng có chữ vinaphone; 01 (một) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa; 01 (một) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ của Ngân hàng N4, 01 (một) ống hút được cuộn bằng giấy màu nâu, 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng) trong túi niêm phong ký hiệu NS1 1914234 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 (một) thẻ nhựa cứng hình chữ nhật màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa, viền màu xanh; 01 (một) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ của Ngân hàng N4 trong túi niêm phong ký hiệu NS1 1914235 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 04 (bốn) ống hút được cuộn bằng giấy màu nâu trong túi niêm phong ký hiệu NS1 1914235 gửi giám định không bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 (một) thẻ nhựa cứng có chữ MB VISA; 02 (hai) ống hút được cuộn bằng giấy màu nâu trong gói niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 (một) thẻ nhựa cứng có chữ vinaphone; 02 (hai) ống hút được cuộn bằng giấy màu nâu trong gói niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 (một) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa, viền màu đỏ; 03 (ba) thẻ nhựa cứng; 01 (một) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ của Ngân hàng N4; 01 (một) ống hút được cuộn bằng giấy màu nâu trong gói niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 (một) thẻ nhựa cứng có chữ viettel 4G; 01 (một) ống hút được cuộn bằng giấy màu nâu trong gói niêm phong ký hiệu M4 gửi giám định có bám dính ma tuý, loại: Ketamine.(bút lục 461-465)

*Tại Bản kết luận giám định số 578/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh H, kết luận:

  • Mẫu tinh thể màu trắng dạng bột trong hộp ký hiệu HKX01 (M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 11,074g, loại: Ketamine.
  • Mẫu tinh thể màu trắng dạng cục trong hộp ký hiệu HKX01 (M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,467g, loại: Ketamine.
  • Mẫu viên nén màu xám trong hộp ký hiệu HKX01 (M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 13,814g, loại: MDMA.
  • Mẫu tinh thể màu trắng dạng cục trong hộp ký hiệu HKX01 (M2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 63,781g, loại: Ketamine.
  • Mẫu viên nén màu hồng trong hộp ký hiệu HKX01 (M3) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 9,747g, loại: Methamphetamine.
  • Mẫu viên nén màu xám trong hộp ký hiệu HKX01 (M4) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,282g, loại: MDMA.
  • Mẫu bột màu vàng cam trong hộp ký hiệu HKX01 (M5) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 15,490g, loại: Methamphetamine, Nimetazepam.
  • Mẫu bột màu nâu trong hộp ký hiệu HKX01 (M5) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,416g, loại: Methamphetamine, Nimetazepam, MDMA.
  • Mẫu bột màu đỏ cam trong hộp ký hiệu HKX01 (M5) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 7,318g, loại: Methamphetamine, Nimetazepam, MDMA.(bút lục 452-453)

* Tại Bản kết luận giám định số 573/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh H, kết luận:

  • Tìm thấy chất Dehydronorketamine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu NT02, NT04, NT05 gửi giám định.
  • Tìm thấy chất ma túy MDMA và D là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu NT01, gửi giám định. (bút lục 472-473).

Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu Phòng K4 Công an tỉnh N giám định kỹ thuật số và điện tử đối với điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Quang T5 (ký hiệu A1), Lê Văn T2 (ký hiệu A2), Vũ Trường G (ký hiệu A3), Nguyễn Thế H (ký hiệu A4)

* Tại Bản Kết luận giám định số 1568/KL-KTHS ngày 13/10/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh N kết luận:

Phục hồi, trích xuất được dữ liệu các cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn trong mẫu gửi giám định (ký hiệu A1), gồm:

  • + 288 nhật ký cuộc gọi điện thoại.
  • + 175 tin nhắn văn bản SMS.
  • + 309 tin nhắn Zalo.

Phục hồi, trích xuất được dữ liệu các cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn trong mẫu gửi giám định (ký hiệu A2), gồm:

  • + 2115 nhật ký cuộc gọi điện thoại.
  • + 3775 tin nhắn văn bản SMS.
  • + 59338 tin nhắn Zalo.

Phục hồi, trích xuất được dữ liệu các cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn trong mẫu gửi giám định (ký hiệu A3), gồm:

  • + 200 nhật ký cuộc gọi điện thoại.
  • + 552 tin nhắn Zalo.

Phục hồi, trích xuất được dữ liệu các cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn trong mẫu gửi giám định (ký hiệu A4), gồm:

  • + 119 nhật ký cuộc gọi điện thoại.
  • + 635 tin nhắn văn bản SMS.
  • + 1568 tin nhắn Zalo.

Tiến hành kiểm tra lịch sử các cuộc gọi và tin nhắn trên, xác định có các cuộc gọi, tin nhắn hoàn toàn phù hợp với lời khai của Nguyễn Quang T5, Vũ Trường G, Nguyễn Thế H và Lê Văn T2. Ngoài ra, không phát hiện dữ liệu gì liên quan đến vụ án và hành vi vi phạm pháp luật khác của Nguyễn Quang T5, Vũ Trường G, Nguyễn Thế H và Lê Văn T2. (bút lục 523-526).

Quá trình điều tra: Ngày 16/11/2024, Vũ Văn V đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Nguyễn Quang T5, Vũ Trường G, Nguyễn Thế H, Lê Văn T2, Vũ Văn V, Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Ngọc A1 và Đào Anh T8 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng vụ án đã chuyển cơ thi hành án ngày 23/1/2025 gồm:

  • - 01 (một) điện thoại di dộng Iphone, vỏ màu đen, số IMEI 1: 355685270563553, IMEI 2: 354685270826984, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên bề mặt có dãy số: 89840.48008.82386.5376, điện thoại đã qua sử dụng (Thu của Nguyễn Quang T5).
  • - 01 (một) điện thoại di dộng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đen, số IMEI1: 351055827122416, IMEI2: 351055827593319, bên trong máy lắp 01 sim V3, trên sim có dãy số: [...].11292933320, điện thoại đã qua sử dụng (Thu của Lê Văn T2).
  • - G1 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đen, IMEI: 359189070719693, bên trong máy không lắp thẻ sim, điện thoại đã qua sử dụng (Thu của Vũ T15).
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám, IMEI 350814290016229 bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên bề mặt có dãy số: 8984.0488.4100.4446.744, điện thoại đã qua sử dụng (Thu của Nguyễn Thế H)
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, mặt phía sau bị vỡ, rạn nứt, IMEI: 353097101244555, bên trong lắp 01 (một) sim, trên sim có dãy số 8984048000911038443, điện thoại đã qua sử dụng (Thu của Đỗ Thị T11).
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 354245331308950, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số: 898404800919119392, điện thoại đã qua sử dụng (Thu của Nguyễn Ngọc A1)
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, mặt sau điện thoại bị rạn nứt nhãn hiệu Iphone, IMEI: 356562101018645, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số: 8984048000910294244, điện thoại đã qua sử dụng (thu của Chị Ksor H3)
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 355660520745466, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số: 8984048000015299189, điện thoại đã qua sử dụng (thu của Chị Nguyễn Thị Phương L3).
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh, màn hình điện thoại và mặt sau điện thoại bị vỡ, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 357771752839154, bên trong lắp 01 (một) sim Vinaphone, trên sim có dãy số: 89840200010989358312, điện thoại đã qua sử dụng (thu của chị Nguyễn Thị T14).
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu tím, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 354132413143283, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số 8984048000079449805, điện thoại đã qua sử dụng (Thu của chị Nguyễn Thị N1).
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 359735195880479, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số: 898404800000951466, điện thoại đã qua sử dụng ( thu của chị Lò Thị S1)
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, IMEI: 357879435172735, bên trong lắp 01 (một) sim, điện thoại đã qua sử dụng (thu của Đào Anh T8).
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đen, IMEI: 354852091995650, bên trong lắp 01 (một) sim, trên sim có dãy số 8984048000383913456, điện thoại đã qua sử dụng ( thu của chị Trần Thị Kiều O).
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám, IMEI: 353893104646329, bên trong lắp 01 (một) sim, trên sim có dãy số 8984048000323507522, điện thoại đã qua sử dụng (thu của chị Nguyễn Thị Cẩm N).
  • - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám, IMEI: 353896102673823, bên trong lắp 01 (một) sim, trên sim có dãy số 8984048000932451888, điện thoại đã qua sử dụng (thu của chị Nguyễn Thị Hồng T13).
  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota VIOS, màu trắng, số khung RL4B23F36M5113323, số máy 2NRX696208, biển kiểm soát 89A-352.77, xe đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số: 0107728, chủ xe là Lê Văn T2;
  • - 01 (một) giấy phép lái xe số: [...], mang tên Lê Văn T2; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 89000545, tên chủ xe Lê Văn T2, biển số đăng ký: 89A-352.77; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 0294130, chủ xe là Lê Văn T2; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: 0713542, biển đăng ký 89A-352.77;
  • - 01 (một) gói phong số 575/KTHS, một mặt có ghi "Mẫu vật hoàn trả NS2 23021399", tại mép dán của gói niêm phong có 02 (hai) chữ ký, 01 dấu chức danh Giám định viên Nguyễn Thị Lan H4, 01 (một) dòng chữ ghi họ và tên Lê Mạnh H5; 03 (ba) dấu tròn đỏ của Phòng K4 Công an tỉnh H;
  • - 01 (một) gói niêm phong số 575/KTHS, một mặt gói có ghi "Mẫu vật hoàn trả NS2A 052514", tại mép dán mặt sau của phong bì có 02 (hai) chữ ký, 01 dấu chức danh Giám định viên Nguyễn Thị Lan H4, 01 (một) dòng chữ ghi họ và tên Lê Mạnh H5; 03 (ba) dấu tròn đỏ của Phòng K4 Công an tỉnh H;
  • - 01 (một) gói niêm phong số 575/KTHS, một mặt có ghi "Mẫu vật hoàn trả NS1 1914238", tại mép dán của gói niêm phong có 02 (hai) chữ ký, 01 dấu chức danh Giám định viên Nguyễn Thị Lan H4, 01 (một) dòng chữ ghi họ và tên Lê Mạnh H5; 03 (ba) dấu tròn đỏ của Phòng K4 Công an tỉnh H;
  • - 01 (một) phong bì niêm phong số 575/KTHS, mặt trước phong bì có ghi "Mẫu vật hoàn trả QT01", tại mép dán mặt sau của phong bì có 02 (hai) chữ ký, 01 dấu chức danh Giám định viên Nguyễn Thị Lan H4, 01 (một) dòng chữ ghi họ và tên Lê Mạnh H5; 03 (ba) dấu tròn đỏ của Phòng K4 Công an tỉnh H.
  • - 01 (một) phong bì niêm phong số 575/KTHS, mặt trước phong bì có ghi "Mẫu vật hoàn trả KX06", tại mép dán mặt sau của phong bì có 02 (hai) chữ ký, 01 dấu chức danh Giám định viên Nguyễn Thị Lan H4, 01 (một) dòng chữ ghi họ và tên Lê Mạnh H5; 03 (ba) dấu tròn đỏ của Phòng K4 Công an tỉnh H;
  • - 01 (một) phong bì niêm phong số 575/KTHS, mặt trước phong bì có ghi "Mẫu vật hoàn trả M1 - ma túy trong túi quần G", tại mép dán mặt sau của phong bì có 02 (hai) chữ ký, 01 dấu chức danh Giám định viên Nguyễn Thị Lan H4, 01 (một) dòng chữ ghi họ và tên Lê Mạnh H5; 03 (ba) dấu tròn đỏ của Phòng K4 Công an tỉnh H.

Cáo trạng số 09/CT-VKSHN-P1 ngày 19 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố:

  • Vũ Trường G về các tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chấp ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  • Nguyễn Thế H và Lê Văn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
  • Nguyễn Quang T5 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
  • Vũ Văn V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
  • Nguyễn Thị Cẩm N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
  • Nguyễn Ngọc A1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
  • Đào Anh T8 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

* Tại phiên tòa:

  • Các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng số 09/CT-VKSHN-P1 ngày 19 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Và các bị cáo Nguyễn Thế H, Lê Văn T2 khai nhận nhiều lần T2 đi xe ô tô biển kiểm soát 89A-352.77 bán ma túy cho Vũ Trường G, do thời gian đã lâu các bị cáo không nhớ cụ thể từng lần bán ma túy. Lê Văn T2 đề nghị trả lại cho bị cáo xe ô tô này, vì tiền mua xe ô tô là do mẹ bị cáo vay mượn mua cho bị cáo sử dụng lái xe taxi, do điều kiện khó khăn về kinh tế, bị cáo đã vận chuyển ma túy bán lấy tiền công muốn tăng thu nhập.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc C1, Hoàng Minh V1, Hoàng Văn L2 và anh Hoàng Văn T10 đề nghị được nhận lại tài sản thu giữ (là điện thoại di động) không do phạm tội mà có.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đề nghị:

    Áp dụng khoản 1 Điều 251 (đối với G, T5); điểm p khoản 2 Điều 251 (đối với H và T2); khoản 1 (thêm điểm c với T8, điểm i với G) Điều 249 đối với G và Anh T8; khoản 1 Điều 255 (với Ngọc A1), điểm b, c khoản 2 Điều 255 đối với G và V; điểm b khoản 2 Điều 255 (đối với N) Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 17 (với H, T2, G, V, Ngọc A1, N); Điều 50 điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với Ngọc A1 và V) Điều 51; Điều 38; Điều 55 (đối với G); Điều 58; Điều 101 (đối với Ngọc A1) Bộ luật Hình sự.

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị tuyên bố:

    Vũ Trường G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội “Tổ chức sử dụng trái phép chấp ma tuý” tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Nguyễn Thế H, Lê Văn T2, Nguyễn Quang T5 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Vũ Văn V, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Thị Cẩm N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; Đào Anh T8 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt: Vũ Trường G từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chấp ma tuý”; từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung 03 tội đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

    • Nguyễn Thế H từ 09 năm tù đến 09 năm 06 tháng tù;
    • Lê Văn T2 từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù.
    • Nguyễn Quang T5 từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
    • Vũ Văn V từ 07 (bảy) năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
    • Nguyễn Thị Cẩm N từ 07 (bảy) năm đến 07 năm 06 tháng tù.
    • Nguyễn Ngọc A1 từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
    • Và Đào Anh Thư T16 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

    Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung đối với Vũ Trường G, Nguyễn Thế H mỗi bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng, Lê Văn T2 từ 05 đến 10 triệu đồng sung quỹ nhà nước.

    Về xử lý vật chứng:

    • Đối với 01 điện thoại di dộng Iphone, vỏ màu đen của Nguyễn Quang T5; 01 điện thoại di dộng Iphone, vỏ màu đen của Lê Văn T2; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu đen của Vũ Trường G; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu xám của Nguyễn Thế H; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu vàng của Đỗ Thị T11; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu vàng của Đào Anh T8; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu đen của Nguyễn Ngọc A1 các bị cáo, đối tượng dùng để liên lạc, hoạt động mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
    • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Trần Kiều O; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Thị N1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Thị T14; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Lò Thị S1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Thị Phương L3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Ksor H3 là tài sản hợp pháp không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho O, N1, T14, S1, L3 và H3.
    • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám của Nguyễn Thị Hồng T13, 01 điện thoại di động loại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám của Nguyễn Thị Cẩm N là tài sản hợp pháp không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho T13 và N.
    • Đối với 01 giấy phép lái xe số: [...], mang tên Lê Văn T2 là tài sản hợp pháp của T2, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho T2.
    • Đối với toàn bộ số ma tuý cùng toàn bộ bao gói là mẫu vật hoàn trả sau giám định đã thu giữ nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ
    • Đối với 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 thẻ nhựa cứng hình chữ nhật màu trắng là công cụ các đối tượng sử dụng vào hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
    • Đối với số tiền 15.000 đồng, gồm tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 5.000 đồng là các tờ tiền thu giữ trong túi xách của Đào Anh T8 được sử dụng làm ống hút ma túy, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
    • Đối với 01 xe ô tô BKS 89A-352.77; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 89A-352.77; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là tài sản của Lê Văn T2 sử dụng để đi bán trái phép chất ma túy, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
    • Truy thu của Nguyễn Thế H 11.000.000 đồng, của Trần Quang T17 500.000 đồng, của Lê Văn T2 số tiền 1.000.000 đồng do phạm tội mua bán ma túy mà có để sung quỹ nhà nước.

    Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, quyết định của cơ quan tố tụng là khách quan, đúng pháp luật và là chứng cứ giải quyết vụ án.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc A1 đã từ chối chỉ định người bào chữa, đại diện Nguyễn Ngọc A1 nên nên Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục chung. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Về trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, dữ liệu điện tử, kết luận giám định, biên bản khám xét, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

- Nhóm hành vi mua bán trái phép chất ma túy:

Với mục đích mua ma túy để bán nên khoảng 17 giờ ngày 28/7/2024 Nguyễn Quang T5 đã liên hệ điện thoại với Vũ Trường G để mua (nửa U ke kim tuyến, 06 viên kẹo); đến khoảng 20 giờ 30 cùng ngày Vũ Văn V liên hệ điện thoại bảo Vũ Trường G mua 04 viên ma túy kẹo và 04 chỉ ke để cả nhóm sử dụng ma túy tại quán K2. Sau đó Vũ Trường G đã liên hệ điện thoại đặt mua của Nguyễn Thế H mua nửa U ke kim tuyến, 06 viên kẹo, 04 viên ma túy kẹo và 04 chỉ ke với giá 16.200.000 đồng. G bán lại cho Nguyễn Quang T5 nửa U ke kim tuyến, 06 viên kẹo (khối lượng 7,503g ma túy Ketamine, 2,859g ma túy MDMA) với giá 16.200.000 đồng, còn lại 07 chỉ đá và 04 viên kẹo là phần lợi nhuận của G và bảo T2 mang đến quán quán K2 để cùng nhóm bạn sử dụng.

Khoảng 22 giờ cùng ngày 28/7/2024, Nguyễn Thế H giao cho Lê Văn T2 điều khiển xe ô tô BKS89A-352.77 vận chuyển ma túy có khối lượng 9,259g ma túy Ketamine và 3,034g ma túy MDMA bán cho Vũ Trường G.

Quá trình mua bán, Vũ Trường G bảo T2 vận chuyển giao ma túy cho T5, sau khi T2 giao ma túy cho T5, T5 lại tiếp tục nhờ T2 lái xe ô tô chở đi giao ma túy cho C2. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 28/7/2024, tại xã H, huyện K, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Quang T5 đã bán ma túy (loại 7,503 gam Ketamine và 2,859 gam MDMA) cho C2 (không rõ lai lịch) với giá 16.200.000 đồng thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang đối với T2 và T5.

- Nhóm hành vi tổ chức sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy tại quán K2:

Khoảng 20 giờ 00 cùng ngày 28/7/2024, Vũ Văn V khởi xướng, đặt phòng, gọi nhân viên phục vụ sử dụng ma túy, Vũ Trường G mua ma túy của Nguyễn Thế H để sử dụng. Khoảng 23 giờ cùng ngày 28/7/2024 tại quán K2, Vũ Văn V để 05 chỉ đá và 02 viên kẹo lên mặt bàn, còn 01 viên kẹo Võ bẻ thành 03 mảnh, tự sử dụng 01 mảnh, đưa cho N 02 mảnh; N cầm lấy 02 mảnh V đưa, tự mình sử dụng 01 mảnh, còn 01 mảnh đưa cho T13 sử dụng. Một lúc sau, Đào Anh T8 và Đỗ Thị T11 (chưa đủ 16 tuổi) là nhân viên của quán Karaoke vào phòng Vip6 phục vụ khách, G đổ túi ma túy ra đĩa, T11 dùng thẻ cứng xào ma túy ke, kẻ thành các đường để cho các đối tượng sử dụng, N lấy đĩa ma túy đã được kẻ sẵn mời G sử dụng, các đối tượng tự sử dụng bằng hình thức hít. Nguyễn Ngọc A1 (chưa đủ 17 tuổi) đến sau cùng đã kẻ 02 đường ma túy ke mời L2 sử dụng ma túy, cả nhóm ra về bị lực lượng Công an phát hiện lập biên bản xử lý theo quy định của pháp luật.

Khoảng 04 giờ 40 phút ngày 29/7/2024 tại quán K2 (trước đây là quán K1) ở phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam Cơ quan CSĐT phát hiện Vũ Trường G cất giấu 02 túi ma túy ke (tương ứng với 0,175g ma túy loại MDMA và 1,756g ma túy loại Ketamine) vào túi quần đùi bên trái và phát hiện Đào Anh T8 cất giữ 0,692g ma túy loại MDMA trong túi xách màu đen, đều với mục đích để sử dụng.

Về xác định khối lượng của loại ma túy: Căn cứ Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ qui định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015 xác định:

- Đối với Nguyễn Quang T5 cất giữ 7,503g ma túy Ketamine và 2,859g ma túy MDMA để bán: Tỷ lệ % về khối lượng của loại ma túy Ketamine, MDMA so với mức tối thiểu của từng loại ma túy này quy định tại điểm i,n khoản 2 Điều 251 BLHS lần lượt là 37,515% và 57,18%. Tổng tỷ lệ % về khối lượng của các chất ma túy Ketamine, MDMA là: 37,515% và 57,18% = 94,695% dưới 100% nên khối lượng ma túyNguyễn Quang Thành cất giữthuộc khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Đối với Nguyễn Thế H đã bán tổng số 10 viên kẹo, 07 chỉ ke và nửa u ke kim tuyến cho Vũ Trường G. Sau đó G lại bán cho T5 06 viên kẹo và nửa u ke kim tuyến (Mẫu niêm phong QT01), 05 chỉ ke và 03 viên kẹo G đưa cho V để các đối tượng tổ chức sử dụng, còn 02 chỉ ke và nửa viên kẹo G cất trong túi quần để sử dụng (Mẫu niêm phong M1). Căn cứ bản Kết luận giám định số 575/KL-KTHS ngày 06/8/2024 thì 06 viên kẹo có khối lượng 2,859g loại MDMA nêntrung bình 01 viên ma túy kẹo có khối lượng là 0,4765g;02 chỉ kecó khối lượng 1,756g loại Ketamine nêntrung bình 01 chỉ ke có khối lượng là 0,878g.

Như vậy, Nguyễn Thế H đã bán tổng cộng 0,4765(g) x10 (viên kẹo) = 4,765g ma túy MDMA và 0,878 (g) x7 (chỉ ke) + 7,503 (nửa U kim) = 13,649g ma túy Ketaminecho Vũ Trường G.Tỷ lệ % về khối lượng của loại ma túy Ketamine, MDMA so với mức tối thiểu của từng loại ma túy này quy định tại điểm i,n khoản 2 Điều 251 BLHS lần lượt là 95,3% và 68,25%. Tổng tỷ lệ % về khối lượng của các chất ma túy Ketamine, MDMA là: 95,3%+ 68,25% = 163,55% trên 100%.

Tiếp tục tính tỷ lệ về khối lượng của loại ma túy Ketamine, MDMA so với mức tối thiểu của từng loại ma túy này quy định tại điểm b, e khoản 3 Điều 251BLHS lần lượt là15,88% và 13,65%. Tổng tỷ lệ % về khối lượng của các chất ma túy Ketamine, MDMA là: 15,88%+ 13,65% = 29,53% dưới 100%. Khối lượng ma túy Nguyễn Thế H và Lê Văn T2 đã bán cho G thuộc khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

-Đối với Vũ Trường G: Ngoài hành vi bán trái phép 7,503g ma túy Ketamine, 2,859g ma túy MDMA cho Nguyễn Quang T5; cung cấp ma túy để cùng đồng bọn sử dụng, G còn cất giữ trái phép 0,175g ma túy MDMA và 1,756g ma túy Ketamine. Tỷ lệ % về khối lượng của loại ma túy Ketamine, MDMA so với mức tối thiểu của từng loại ma túy này quy định tại điểm g, l khoản 2 Điều 249 BLHS lần lượt là 3,5% và 8,78%. Tổng tỷ lệ % về khối lượng của các chất ma túy Ketamine, MDMA là: 3,5% + 8,78% = 12,28% dưới 100% nên khối lượng ma túy Giang tàng trữ thuộc khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm tội như sau:

  • Hành vi của Vũ Trường G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251; Tội “Tổ chức sử dụng trái phép chấp ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  • Hành vi của Nguyễn Thế H và Lê Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
  • Hành vi của Nguyễn Quang T5 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
  • Hành vi của Vũ Văn V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thị Cẩm N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
  • Hành vi của Nguyễn Ngọc A1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
  • Hành vi của Đào Anh T8 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về đồng phạm: Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” các bị cáo đồng phạm giản đơn, Vũ Văn V là người khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma túy, Vũ Trường G mua ma túy sử dụng thực hiện tội phạm tích cực nên xếp vai trò đầu vụ; Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Ngọc A1 vào sau cùng thực hành giúp sức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác nên xếp vai trò cuối.

Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vụ án đồng phạm giản đơn, Nguyễn Thế H là người chủ mưu, trực tiếp bán ma túy nên giữ vai trò đầu vụ; Lê Văn T2 là người thực hành (giao ma túy) nên xếp vai trò thứ. Vũ Trường G, Nguyễn Quang T5 đều chịu trách nhiệm độc lập về hành vi bán trái phép chất ma túy. Vũ Trường G, Đào Anh T8 phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc A1 có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, Vũ Văn V đầu thú ngày 16/11/2024, đây là tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo này được hưởng thêm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Vũ Trường G, Nguyễn Quang T5 có nhân thân xấu: Năm 2019, bị Công an huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi Đánh bạc (Ngày 22/11/2019 đã chấp hành Quyết định xử phạt). Ngày 06/7/2023, Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Quang T5 về hành vi Gây rối trật tự công cộng với số tiền 400.000 đồng (Ngày 06/7/2023 đã chấp hành Quyết định xử phạt).

Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Thời gian qua, tội phạm mua bán ma túy tổng hợp có chiều hướng gia tăng, các bị cáo lợi dụng mạng xã hội, Z, lợi dụng dịch vụ xe taxi, xe ôm, giao hàng nhanh để vận chuyển ma túy, thực hiện hành vi phạm tội với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi khó bị phát hiện. Nhà nước áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ phòng ngừa, đấu tranh triệt phá loại tội phạm này nhưng còn nhiều căng go phức tạp. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo yên tâm chấp hành án.

Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo Vũ Trường G phạm nhiều tội nên cần tổng hợp hình phạt theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Đối với Vũ Trường G, Nguyễn Thế H, Lê Văn T2 phạm tội với động cơ vụ lợi, vì vậy cần phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Hà Nam.

Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 xe ô tô BKS 89A-352.77, 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 89A-352.77 thuộc quyền sở hữu của Lê Văn T2, đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội (bị cáo nhiều lần sử dụng xe ô tô vận chuyển ma túy để bán cho G) nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 01 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
  • Đối với các giấy tờ kèm theo quyền sở hữu xe ô tô gồm: 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là tài sản của Lê Văn T2 cần tịch thu sung ngân sách nhà nước (nếu hết hạn sử dụng thì tịch thu tiêu hủy).
  • Đối với 01 điện thoại di dộng Iphone, vỏ màu đen của Nguyễn Quang T5; 01 điện thoại di dộng Iphone, vỏ màu đen của Lê Văn T2; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu đen của Vũ Trường G; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu xám của Nguyễn Thế H; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu vàng của Đỗ Thị T11; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu vàng của Đào Anh T8; 01 điện thoại di động Iphone, vỏ màu đen của Nguyễn Ngọc A1, các bị cáo liên lạc việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Trần Kiều O; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Thị N1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Thị T14; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Lò Thị S1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Thị Phương L3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Ksor H3 là tài sản hợp pháp không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho O, N1,T14, S1, L3 và H3.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám của Nguyễn Thị Hồng T13, 01 điện thoại di động loại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám của Nguyễn Thị Cẩm N là tài sản hợp pháp không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho T13 và N.
  • Đối với 01 giấy phép lái xe số: [...], mang tên Lê Văn T2 là tài sản hợp pháp của T2, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho T2.
  • Đối với số tiền 15.000 đồng, gồm tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 5.000 đồng là các tờ tiền thu giữ trong túi xách của Đào Anh T8 được sử dụng làm ống hút ma túy, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • Đối với toàn bộ số ma tuý cùng toàn bộ bao gói là mẫu vật hoàn trả sau giám định, đĩa sứ cũ, 01 thẻ nhựa cứng hình chữ nhật màu trắng là công cụ các đối tượng sử dụng vào hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • Về truy thu số tiền do phạm tội mà có: Truy thu của Nguyễn Thế H 11.000.000 đồng; của Lê Văn T2 1.000.000 đồng; của Nguyễn Quang T5 500.000 đồng, vì đều là tiền do mua bán, vận chuyển ma túy mà có.
  • Đối với tài sản thu giữ là điện thoại của Hoàng Minh V1, Nguyễn Ngọc C1, Hoàng Văn L2, Hoàng Văn T10 và Hà Văn T12 những người này đề nghị nhận lại tài sản thu giữ. Nhưng Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi của các đối tượng có liên quan xử trong vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Các vấn đề khác:

Đối với Đỗ Thị T11 đã có hành vi xào ma túy ke để người khác sử dụng trong phòng VIP 6 quán karaoke KTV Q9 sử dụng. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Đỗ Thị T11 sinh ngày 29/8/2008 mới 15 tuổi 10 tháng 29 ngày chưa đủ 16 tuổi. Nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là phù hợp.

Đối với Nguyễn Quang M1 và Nguyễn Như L4 không tham gia bàn bạc, thống nhất, không chuẩn bị công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy, không có hành vi gì giúp sức cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên không cấu thành tội phạm. Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M1 và L4 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

Đối với hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Hoàng Minh V1, Nguyễn Ngọc C1, Hoàng Văn L2 và Hoàng Văn T10 là phạm tội độc lập; đối với hành vi của Nguyễn Thế H toàn bộ số ma túy thu giữ khi khám xét tại quán K Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi của các đối tượng có liên quan xử lý sau.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251 (đối với G, T5); điểm p khoản 2 Điều 251 (với H và T2); khoản 1 (điểm c với T8, điểm i với G) Điều 249 đối với G và Anh T8; khoản 1 Điều 255 (với Ngọc A1), điểm b, c khoản 2 Điều 255 đối với G và V; điểm b khoản 2 Điều 255 (với N) Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 17 (với G, V, N, Ngọc A1; H, T2); Điều 50 điểm s khoản 1, khoản 02 (với Ngọc A1 và V) Điều 51; Điều 38; Điều 55 (với G); Điều 58; Điều 101 (với Ngọc A1) Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

[1]. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trường G, Nguyễn Thế H, Lê Văn T2, Nguyễn Quang T5 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Vũ Văn V, Vũ Trường G, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Thị Cẩm N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; Vũ Trường G, Đào Anh T8 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt:

  • Vũ Trường G 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, 08 (T18) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chấp ma tuý” và 02 (H6) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung 03 tội bị cáo phải chấp hành là 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024.
  • - Nguyễn Thế H 09 (C3) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024.
  • - Lê Văn T2 08 (T18) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024.
  • - Nguyễn Quang T5 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024.
  • - Vũ Văn V 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2024.
  • - Nguyễn Thị Cẩm N 07 (B1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024.
  • - Đào Anh T8 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 đến ngày 10/8/2024.
  • - Nguyễn Ngọc Anh 2 (Hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/08/2024 đến ngày 07/11/2024.

Về hình phạt bổ sung: Phạt Nguyễn Thế H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), Vũ Trường G 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), Lê Văn T2 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

[2]. Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu thu sung quỹ nhà nước của Lê Văn T2 01 xe ô tô BKS 89A-352.77 và các giấy tờ kèm theo 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 89A-352.77, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (nếu giấy bảo hiểm, chứng nhận kiểm định hết hạn sử dụng thì tịch thu tiêu hủy).
  • Tịch thu của Nguyễn Quang T5 01 (một) điện thoại di dộng Iphone, vỏ màu đen, số IMEI 1: 355685270563553, IMEI 2: 354685270826984, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên bề mặt có dãy số: 89840.48008.82386.5376, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Tịch thu của Lê Văn T2 01 (một) điện thoại di dộng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đen, số IMEI1: 351055827122416, IMEI2: 351055827593319, bên trong máy lắp 01 sim V3, trên sim có dãy số: [...].11292933320, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Tịch thu của Vũ Trường G 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đen, IMEI: 359189070719693, bên trong máy không lắp thẻ sim, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Tịch thu của Nguyễn Thế H 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám, IMEI 350814290016229 bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên bề mặt có dãy số: 8984.0488.4100.4446.744, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Tịch thu của Đỗ Thị T11 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, mặt phía sau bị vỡ, rạn nứt, IMEI: 353097101244555, bên trong lắp 01 (một) sim, trên sim có dãy số 8984048000911038443, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Tịch thu của Nguyễn Ngọc A1 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 354245331308950, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số: 898404800919119392, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Tịch của Đào Anh T8 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, IMEI: 357879435172735, bên trong lắp 01 (một) sim, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Trả lại chị Ksor H3 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, mặt sau điện thoại bị rạn nứt nhãn hiệu Iphone, IMEI: 356562101018645, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số: 8984048000910294244, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Trả lại chị Nguyễn Thị Phương L3 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 355660520745466, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số: 8984048000015299189, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Trả lại chị Nguyễn Thị T14 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh, màn hình điện thoại và mặt sau điện thoại bị vỡ, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 357771752839154, bên trong lắp 01 (một) sim Vinaphone, trên sim có dãy số: 89840200010989358312, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Trả lại chị Nguyễn Thị N1 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu tím, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 354132413143283, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số 8984048000079449805, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Trả lại chị Lò Thị S1 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh, nhãn hiệu Iphone, IMEI: 359735195880479, bên trong lắp 01 (một) sim V3, trên sim có dãy số: 898404800000951466, điện thoại đã qua sử dụng
  • Trả lại chị Trần Thị Kiều O 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đen, IMEI: 354852091995650, bên trong lắp 01 (một) sim, trên sim có dãy số 8984048000383913456, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Trả lại chị Nguyễn Thị Cẩm N 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu xám, IMEI: 353893104646329, bên trong lắp 01 (một) sim, trên sim có dãy số 8984048000323507522, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Trả lại chị Nguyễn Thị Hồng T13 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám, IMEI: 353896102673823, bên trong lắp 01 (một) sim, trên sim có dãy số 8984048000932451888, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Trả lại Lê Văn T2 01 (một) giấy phép lái xe số: [...] (mang tên Lê Văn T2).
  • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng còn lại Biên bản giao, nhận vật chứng là mẫu vật hoàn trả sau giám định. (Tình trạng đặc điểm, tình trạng tài sản như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/1/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Hà Nam với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam).
  • Truy thu của Nguyễn Thế H số tiền 11.000.000đ (Mười một triệu đồng), của Lê Văn T2 1.000.000đ (Một triệu đồng), của Nguyễn Quang T5 500.000 (Năm trăm ngàn đồng) sung quỹ nhà nước.

[3]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc Vũ Trường G, Nguyễn Thế H, Lê Văn T2, Nguyễn Quang T5, Vũ Văn V, Nguyễn Thị Cẩm N, Đào Anh T8 và Nguyễn Ngọc A1, mỗi bị cáo có tên nêu trên phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng NVHS Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Hà Nam;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, Tòa hình sự, Bộ phận HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Quốc Trưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 10/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo tụ tập thuê phòng hát sử dụng ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger