TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 10/2025/HSST Ngày 25/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- + Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Chuyên viên phòng giáo dục đào tạo huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- + Bà Nguyễn Thị Trang - Công chức Tư pháp xã An Hòa Thịnh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Thế Hồng - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Đại diện VKSND huyện Hương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương, Kiểm sát viên.
Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST- HS, ngày 11/02/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Anh Đ; sinh ngày: 02 tháng 7 năm 2008; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Thanh T và bà Hồ Thị Thanh B; vợ con: Chưa có; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12 tháng 6 năm 2024 bị Công an huyện H xử phạt bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản; vgày 17/6/2024 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 16/7/ 2024 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định áp dụng biện pháp hành chính giáo dục tại tại xã thời hạn 06 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 19 tháng 6 năm 2024 bị Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đều chưa chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/12/2024 đến nay. Có mặt tại phiên toà
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hồ Thị Thanh B, sinh năm: 1985; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Trần Thanh T, sinh năm: 1983; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
- * Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Anh Đ : Bà Nguyễn Thị Phương T1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
- * Đại diện Ủy ban nhân dân xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh: Ông Đoàn D – Công chức Tư pháp xã; có mặt tại phiên tòa.
- * Bị hại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; Nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- + Anh Trần Văn M, sinh năm: 1986; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có tại hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 40 phút, ngày 03 tháng 12 năm 2024 Trần Văn Anh Đ đi bộ từ nhà mình đến nhà chị Nguyễn Thị L, rồi đi đến nhà kho cạnh chuồng bò, do nhà kho không có cửa nên Đ nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave anphal, màu xanh đeo biên kiểm soát 74F9 6272 đang cắm chìa khoá tại ổ khoá nên đức đã tiến lại và dắt chiếc xe máy này ra ngõ, rồi điều khiển xe đi theo đường quốc lộ 281 ra hướng chợ B1 thuộc địa phận huyện V, tỉnh Hà Tĩnh để ra thành phố V Nghệ An chơi và tìm việc làm.
Đến sáng ngày 12/12/2024, chị Nguyễn Thị L phát hiện chiếc xe mô tô của mình bị mất nên đã trình báo với cơ quan Công an. Đến chiều ngày 12/12/2024, khi biết hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện nên Đ đã đến cơ quan Công an huyện H đầu thú về hành vi của mình và tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nói trên.
- * Về dân sự: Chị Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo bồi thường 1.000.000 đồng chi phí đi lại trong thời gian không có xe mô tô. Ngày 10/01/2025 gia đình bị cáo đã bồi thường số 1.000.000 đồng. Hiện nay chị L không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
- * Vật chứng thu giữ chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn:
- - 01 Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wa ve anphal, màu xanh đeo biển kiểm kiểm soát 74 F9 - 6272, số khung: RLHHC 09073 Y 625501, số máy: HC 09E 0625533. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
Tại bản cáo trạng số 13/CT - VKS - HS ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Văn Anh Đức về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng:
- * Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Anh Đ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- * Về hình phạt bổ sung: Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Trần Văn Anh Đ là người dưới 18 tuổi nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng chính sách người dưới 18 tuổi phạm tội không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- * Về trách nhiệm dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị L số tiền 1.000.000 đồng chi phí đi lại trong thời gian không có xe. Hiện nay bị hại chị Nguyễn Thị L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị Thanh B, anh Trần Văn T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn số số tiền 1.000.000 đồng và chị B, anh T2 đã thực hiện việc bồi thường cho bị hại nên đề nghị hội đồng xét xử miễn xét.
- * Về xử lý vật chứng: Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wa ve anphal, màu xanh đeo biển kiểm kiểm soát 74 F9 - 6272, số khung: RLHHC 09073 Y 625501, số máy: HC 09E 0625533. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng để tiếp tục điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
- * Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, đại diện chính quyền nơi bị cáo sinh sống và người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Anh Đ là bà Nguyễn Thị Phương T1 đều cho rằng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi mới bước qua tuổi 16 cho nên nhận thức bị cáo chưa hoàn thiện. Bị cáo thực hiện mục đích phạm tội giản đơn, trị giá thấp. Tích cực tác động gia đình để bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại, tự thú và có ông nội là thương binh hạng 4, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Bị cáo Trần Văn Anh Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn Anh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định khoảng 16 giờ 40 phút ngày 03/12/2024 Trần Văn Anh Đ có hành vi lén lút vào nhà chị Nguyễn Thị L lấy trộm 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha biển kiểm soát 74F0 - 6227 trị giá 3.000.000 đồng đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có gì oan sai.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày, chứng tỏ sự liều lĩnh và coi thường pháp luật. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người; bị cáo có 04 tiền sự đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử lý hành chính về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa tiền sự nhưng bị cáo không coi đây là bài học kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xét xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đầu thú; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị cáo có ông nội là thương hạng 4; tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi. Vì vậy cần áp dụng chính sách người dưới 18 tuổi phạm tội để quyết định hình phạt và áp dụng các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
[6] Về hình phạt bổ sung: Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Trần Văn Anh Đ là người dưới 18 tuổi nên cần áp dụng chính sách người dưới 18 tuổi phạm tội, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 1.000.000 đồng, hiện nay bị hại chị Nguyễn Thị L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị Thanh B, anh Trần Văn T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn số tiền 1.000.000 đồng và chị B, anh T2 đã thực hiện việc bồi thường cho bị hại nên hội đồng xét xử miễn xét.
[8] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anphal, màu xanh đeo biển kiểm soát 74F9 – 6272 chị Nguyễn Thị L khai chiếc xe này chị mua vào khoảng năm 2019 của một người tên là Lê Việt H, ở khu phố D, phường E, thành phố Q với giá 11.000.000 đồng. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh và kiểm tra trên hệ thống dữ liệu về dân cư xác định không có cư dân nói trên. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành tra cứu số khung, số máy chiếc xe này nhưng không có kết quả trong cơ sở dữ liệu nên cần giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
[9] Về án phí: Bị cáo Trần Văn Anh Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn Anh Đ 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- - Về vật chứng vụ án: Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wa ve anphal, màu xanh đeo biển kiểm kiểm soát 74 F9 - 6272, số khung: RLHHC 09073 Y 625501, số máy: HC 09E 0625533. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng để tiếp tục điều tra xử lý theo thẩm quyền.
- (Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/02/2025)
- - Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn Anh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn Anh Đ, người đại diện hợp pháp cho bị cáo và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh T và bà Hồ Thị Thanh B; bị hại anh Trần Văn M; người bào chữa cho bị cáo bà Nguyễn Thị Phương T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại chị Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Dung |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
| Nguyễn Thị Nguyệt Nguyễn Thị Trang | Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 10/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 10/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án trộm cắp tài sản
