|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HSST
Ngày: 10-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trường Tam .
Ông Đặng Văn Vững.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Thị Thu Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST - HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày: 10/01/1992.
Nơi thường trú: thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện tại: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: kinh doanh cơ sở massage; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị H1; Bản thân có chồng tên Nguyễn Khắc D (đã ly hôn), đang chung sống như vợ chồng với Nguyễn Văn B, có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án – tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Phạm Thị Thanh H2, sinh ngày: 01/5/1986.
Tên gọi khác: Q.
Nơi thường trú: 25 L, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: quản lý cơ sở massage; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thanh N và bà Nguyễn Thị Ú; Bản thân không có chồng, có 01 con, sinh năm 2015; Tiền án – tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Trần Thị Ngọc T, sinh năm: 2006 (vắng mặt).
Cư trú: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Hà Tường V, sinh năm: 2005 (vắng mặt).
Cư trú: ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Vũ Thị Bích H3, sinh năm: 2001 (có mặt).
Cư trú: thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Phạm Văn T1, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Cư trú: ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Nguyễn Thanh H4, sinh năm: 1980 (vắng mặt).
Cư trú: ấp B, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ ngày 11/10/2024, Phòng PC02 Công an tỉnh L phối hợp Công an huyện C tiến hành kiểm tra, phát hiện tại khách sạn F thuộc Ấp C, xã L, huyện C do bà Trần Thị T2 quản lý có 01 đôi nam nữ: Hà Tường V và Phạm Văn T1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm; tại tiệm hớt tóc, gội đầu không tên thuộc Ấp C, xã L, huyện C có 01 đôi nam nữ: Trần Thị Ngọc T và Nguyễn Thanh H4 đang thực hiện hành vi mua bán dâm nên lập biên bản đưa về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra xác định được: Vào khoảng cuối năm 2019, Nguyễn Thị Thu H HaàhA= có sang lại tiệm hớt tóc, gội đầu Thanh T3 có địa chỉ tại Lô A khu dân cư T thuộc Ấp C, xã L của chị T3 (chưa rõ nhân thân) với giá 75.000.000 đồng để kinh doanh. Đến đầu năm 2023, H thuê Vũ Thị Bích H3 đến làm tại tiệm hớt tóc, gội đầu thỏa thuận tiền công là 200.000 đồng/ngày, nhiệm vụ là quản lý, vệ sinh nhà và phục vụ khi có khách hớt tóc gội đầu. Giá vé hớt tóc, gội đầu là 200.000 đồng, H3 được hưởng 100.000 đồng và chia cho H 100.000 đồng. Đến khoảng tháng 4/2023, H thuê mặt bằng tại Lô B khu dân cư L thuộc Ấp C, xã L để mở cơ sở massage với hình thức xông hơi, xoa bóp, kích dục tên “Tỷ M”, H và H3 hùn tiền mỗi người 100.000.000 đồng để mở, cơ sở này do H3 đứng tên đăng ký kinh doanh. Hoạt động được khoảng 6 tháng, H3 không làm nữa nên sang nhượng rút vốn và ủy quyền lại tất cả việc điều hành cho H. Lúc này, cơ sở của H có 02 nhân viên là: Trần Thị Ngọc T và Hà Tường V. Về giá vé massage có các loại: giá vé 350.000đ, H được hưởng 210.000 đồng, nhân viên được hưởng 140.000 đồng; giá vé 700.000 đồng, H được hưởng 330.000 đồng, nhân viên được hưởng 370.000 đồng; giá vé 800.000 đồng, H được hưởng 340.000 đồng, nhân viên được hưởng 460.000 đồng.
Khoảng tháng 7/2024, H thuê Phạm Thị Thanh H2 đến làm việc tại cơ sở massage T4 với giá 200.000 đồng/ngày, H phân công cho H2 hàng ngày là dọn dẹp vệ sinh, giặt chăn, ga trải giường, quản lý nhân viên và bán vé massage cho khách. Thời gian làm việc từ 11 giờ đến 19 giờ hàng ngày, H quản lý các hoạt động của cơ sở từ 19 giờ đến 03 giờ ngày hôm sau.
Từ ngày 18/9/2024, do vắng khách và có một số khách đến có nhu cầu mua dâm nên H bàn bạc thống nhất với H2, T và V là nếu khách có nhu cầu mua dâm thì yêu cầu T, V trực tiếp thỏa thuận việc mua bán dâm với khách và đi cùng khách đến tiệm hớt tóc, gội đầu của H thuê trước đó để thực hiện hành vi bán dâm. Nếu tại tiệm H5, gội đầu không còn phòng hoặc khách có yêu cầu đến khách sạn, thì nhân viên sẽ cùng khách đến các khách sạn trên địa bàn để thực hiện bán dâm, giá mỗi lần bán dâm là 1.100.000 đồng, trong đó tiền phòng 100.000 đồng, nếu nhân viên bán dâm cho khách tại khách sạn, thì sẽ lấy 100.000 đồng để trả tiền phòng, nếu nhân viên bán dâm cho khách tại tiệm hớt tóc, gội đầu của H thì sẽ đưa tiền phòng cho H từ 70.000 đồng đến 100.000 đồng, số tiền 1.000.000 đồng còn lại nhân viên hưởng 700.000 đồng, còn lại H hưởng 300.000 đồng. H quy định cho nhân viên, nếu khách mua dâm trả tiền mua dâm bằng hình thức trả tiền mặt, thì sẽ đưa tiền mặt cho nhân viên hoặc H2, nếu khách chuyển khoản thì sẽ chuyển tiền vào tài khoản số 039704070006890 ngân hàng H6 của H, được dán mã QR trên tường phía trước quầy tiếp tân. Nếu khách mua dâm chuyển khoản thì H2 sẽ hỏi H có nhận được tiền của khách chuyển khoản hay chưa, nếu H nhận được thì H và H2 sẽ kêu nhân viên đi bán dâm cho khách. Tất cả tiền mua vé massage hoặc tiền bán dâm của nhân viên, H sẽ thanh toán cho nhân viên khi hết giờ làm việc.
Như thường lệ, khoảng 11 giờ ngày 11/10/2024, H2 đến làm và điều hành hoạt động của cơ sở massage theo sự phân công của H. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Phạm Văn T1 và Nguyễn Thanh H4 đến cơ sở massage gặp H4 và nói khách quen, muốn đi ngoài (tức là muốn mua dâm) với giá 1.100.000 đồng. Do T1 và H4 không có tiền mặt mà muốn thanh toán bằng cách chuyển khoản, nên H4 chỉ mã QR tài khoản số 039704070006890 ngân hàng H6 của H dán trên tường gần quầy thu ngân, để quét mã chuyển khoản mỗi người số tiền 1.100.000 đồng. Sau khi T1 và H4 chuyển khoản xong, H4 đi lên phòng nghỉ trên lầu gặp H, hỏi đã nhận chuyển khoản tiền xong chưa thì H nói nhận được rồi, H4 dùng điện thoại liên lạc kêu T và V đến cơ sở massage để đi bán dâm cho T1 và H4. Lúc này, T hỏi mượn xe mô tô của H4 để chở Thanh H4 đến tiệm hớt tóc, gội đầu của H để thực hiện hành vi bán dâm, V kêu xe ôm của 01 người nam thanh niên (không rõ nhân thân) chở V và T1 đến thuê phòng số 106 khách sạn 68 thuộc Ấp C, xã L để thực hiện hành vi bán dâm thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. H, H4 khai nhận từ ngày 18/9/2024 đến khi bị phát hiện, đã làm trung gian môi giới cho T và V bán dâm khoảng 14 – 15 lượt khách và H thu lợi bất chính khoảng 4.500.000 đồng. Đồng thời, H cho T, V dẫn khách đến tiệm hớt tóc, gội đầu của H thuê để bán dâm cho khách được khoảng 5 – 6 lượt khách, thu lợi khoảng 500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKSCG ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo:
Nguyễn Thị Thu H về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự và tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Phạm Thị Thanh H2 về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hai bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Thu H từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Thu H từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo H phải chấp hành về hai tội.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H theo quy định tại khoản 5 Điều 327 và khoản 4 Điều 328 và Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Thị Thanh H2 từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng đến 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H2 theo quy định tại khoản 4 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 7, màu vàng – đen của bị cáo H4 dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội. Số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo H đã thu lợi từ việc môi giới mại dâm và chứa mại dâm và số tiền 1.400.000 đồng là số tiền mà bị cáo H nhận chuyển khoản của khách (anh H2 và anh T1), nhưng chưa chia tiền cho hai nhân viên bán dâm.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thẻ sim điện thoại di động số: 0898.008.xxx của bị cáo H2 dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội và 12 (mười hai) bao cao su màu trắng không rõ nhãn hiệu chưa qua sử dụng; 02 (hai) bao cao su màu vàng không rõ nhãn hiệu chưa qua sử dụng, 02 (hai) khăn giấy ướt màu đen hiệu “NGÓI ĐÁ”.
Đối với các điện thoại di động và sim số thu giữ của bị cáo H; Hà Tường V; Trần Thị Ngọc T; Vũ Thị Bích H3; Phạm Văn T1 và Nguyễn Thanh H4. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của hai bị cáo, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho các chủ sở hữu, là phù hợp.
Hai bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không có ý kiến tranh luận.
Hai bị cáo nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Vào tháng 4/2023, Nguyễn Thị Thu H mở cơ sở kinh doanh massage tên “Tỷ Muội” trá hình, với hình thức cho nhân viên phục vụ kích dục cho khách. Đến khoảng tháng 7/2024, bị cáo H có thuê Phạm Thị Thanh H2 đến làm việc tại cơ sở massage với nhiệm vụ hàng ngày là dọn dẹp vệ sinh, giặt chăn, ga trải giường, quản lý nhân viên và bán vé massage cho khách. Bị cáo H2 quản lý các hoạt động của cơ sở từ 11 giờ đến 19 giờ hàng ngày, H quản lý các hoạt động của cơ sở từ 19 giờ đến 03 giờ ngày hôm sau. Do vắng khách, nên bị cáo H và H2 đã làm trung gian môi giới cho Trần Thị Ngọc T và Hà Tường V, là nhân viên của của cơ sở bán dâm cho khách, khi khách có nhu cầu nhằm mục đích thu lợi bất chính. Qua điều tra và tại phiên tòa chứng minh được, từ ngày 18/9/2024 đến ngày 11/10/2024, bị cáo H với sự giúp sức của bị cáo H2 đã tổ chức môi giới cho T, V bán dâm cho khách khoảng 14 – 15 lượt khách, thu lợi bất chính 4.500.000 đồng, trong đó ngày 11/10/2024 bị cáo H, H2 đã môi giới cho T, V bán dâm cho khách là Phạm Văn T1 và Nguyễn Thanh H4. Bị cáo H4 là người làm thuê, thực hiện theo sự phân công của bị cáo H, mặc dù H4 không có hưởng lợi từ việc môi giới mại dâm, nhưng H4 có hành vi giúp sức tích cực cho H hoạt động môi giới để thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo H, H4 đã cấu thành tội “Môi giới mại dâm” tội phạm được quy định tại Điều 328 Bộ luật hình sự. Với số lần bị cáo H và H4 môi giới mại dâm trên hai lần và môi giới cho hai người là T và V bán dâm, nên hành vi của bị cáo H và H4 thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt là “Phạm tội 02 lần trở lên và Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự. Việc hai bị cáo H, H4 cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không có sự cấu kết, phân công chặt chẽ, đồng phạm giản đơn, nên không xem xét đến tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là phạm tội có tổ chức.
[3] Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H còn khai nhận lợi dụng việc kinh doanh dịch vụ hớt tóc, gội đầu để hoạt động chứa mại dâm nhằm thu lợi bất chính. Cụ thể từ ngày 18/9/2024 đến ngày 11/10/2024, H đã dùng địa điểm tiệm hớt tóc, gội đầu do mình làm chủ và quản lý tại Lô A khu dân cư T, Ấp C, xã L, huyện C để cho T, V thực hiện hành vi bán dâm cho khách khoảng 5 – 6 lượt, thu lợi 500.000 đồng, trong đó ngày 11/10/2024, H chứa 01 lượt cho T và Nguyễn Thanh H4 thực hiện hành vi mua bán dâm, thu lợi bất chính được số tiền 100.000 đồng. Hành vi của bị cáo H đã cấu thành tội “Chứa mại dâm” tội phạm được quy định tại Điều 327 Bộ luật hình sự và với số lần bị cáo H cho T và V bán dâm cho khách trên hai lần, nên thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt là “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của hai bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến đạo đức, thuần phong mỹ tục, xâm phạm đến đời sống văn hóa và gây mật trật tự công cộng, nên Nhà nước đấu tranh ngăn chặn tệ nạn mại dâm trong xã hội để góp phần giữ gìn an ninh, trật tự xã hội. Do đó hành vi phạm tội của hai bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: hai bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hai bị cáo đã tự nguyện khai nhận các lần phạm tội trước đó, bị cáo H hiện đang nuôi hai con chưa thành niên, bị cáo H4 có cha tên Phạm Thanh N được Nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, nên hai bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Xét về vị trí vai trò và nhân thân của hai bị cáo trong vụ án (tội môi giới mại dâm): bị cáo H là chủ cơ sở massage, ấn định tỉ tệ chia tiền, trực tiếp nhận tiền (chuyển khoản). Bị cáo H4 là người làm thuê, đồng phạm với vai trò giúp sức.
[8] Từ những phân tích trên, xét thấy cần cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục. Đối với tội “Môi giới mại dâm” thì hình phạt dành cho bị cáo H cao hơn bị cáo H4. Xét thấy áp dụng hình phạt chính là phạt tù cũng đủ răn đe. Nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với H bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 327 và khoản 4 Điều 328 Bộ luật hình sự và bị cáo H4 theo quy định tại khoản 4 Điều 328 và Bộ luật hình sự.
[9] Đối với Nguyễn Thanh H4 và Phạm Văn T1 đã có hành vi mua dâm; đối với Trần Thị Ngọc T và Hà Tường V đã có hành vi bán dâm; đối với bà Trần Thị T2 là người trực tiếp quản lý Khách sạn F đã có hành vi thiếu trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua bán dâm tại phòng 106, là vi phạm các quy định tại khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25; khoản 2 Điều 27 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội và đối với hoạt động của Công ty TNHH MTV X - massage Tỷ Muội do Nguyễn Thị Thu H là người quản lý. Cơ quan cảnh sát điều tra đã có Công văn số 563/CV-ĐTTH, ngày 30/12/2024 chuyển hồ sơ đến Công an xã L để xử lý theo thẩm quyền. Đối với Vũ Thị Bích H3 không tham gia cũng như không hưởng lợi từ việc bị cáo H chứa mại dâm nên không xem xét xử lý, là phù hợp.
[10] Về tang vật thu giữ: căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự để xử lý như sau:
- [10.1] Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 7, màu vàng – đen của bị cáo H4 dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội. Nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
- [10.2] Đối với số tiền 5.000.000 đồng là số tiền mà bị cáo H đã thu lợi từ việc môi giới mại dâm và chứa mại dâm và số tiền 1.400.000 đồng là số tiền mà bị cáo H nhận chuyển khoản của khách (anh H4 và anh T1) vào ngày 11/10/2024, H dự định chia cho T, V khi thực hiện xong việc bán dâm, nhưng chưa chia. Nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
- [10.3] Đối với 01 (một) thẻ sim điện thoại di động số: 0898.008.xxx của bị cáo H4 dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội và 12 (mười hai) bao cao su màu trắng không rõ nhãn hiệu chưa qua sử dụng; 02 (hai) bao cao su màu vàng không rõ nhãn hiệu chưa qua sử dụng, 02 (hai) khăn giấy ướt màu đen hiệu “NGÓI ĐÁ”, xét thấy giá trị sử dụng không lớn. Nên tịch thu tiêu hủy.
- [10.4] Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, số sim: 0394.098.369 thu giữ của bị cáo H; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, số sim: 0938.894.428 thu giữ của Hà Tường V; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Plus, màu đen, số sim: 0332.395.173 thu giữ của Trần Thị Ngọc T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số sim: 0569.293.683 thu giữ của Vũ Thị Bích H3; 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo, số sim: 0972.747.771 thu giữ của Phạm Văn T1 và 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo, số sim: 0981.487.480 thu giữ của Nguyễn Thanh H4. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của hai bị cáo, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho các chủ sở hữu, là phù hợp. Nên không xem xét.
[11] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Chứa mại dâm” và tội “Môi giới mại dâm”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Thu H 05 (năm) năm tù.
Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Thu H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo H phải chấp hành về hai tội 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13/10/2024.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Thanh H2 phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Thị Thanh H2 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13/10/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam hai bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (10/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Về tang vật:
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 7, màu vàng – đen và số tiền 6.400.000 đồng (sáu triệu bốn trăm ngàn đồng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thẻ sim điện thoại di động số: 0898.008.xxx và 12 (mười hai) bao cao su màu trắng không rõ nhãn hiệu chưa qua sử dụng; 02 (hai) bao cao su màu vàng không rõ nhãn hiệu chưa qua sử dụng, 02 (hai) khăn giấy ướt màu đen hiệu “NGÓI ĐÁ”.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKSCG, ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí:
mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 10/2025/HSST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN về hình sự về tội chứa mại dâm và môi giới mại dâm
- Số bản án: 10/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Chứa mại dâm và Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H và đồng phạm phạm tội "Chứa mại dâm"
