TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 10/2025/HSST Ngày: 24/01/2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Oanh và Bà Vũ Thị Tịnh.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Luật – Thư ký Tòa án.
Đại diện VKSND huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị H - KSV.
Hôm nay, ngày 24/01/2025, tại Trụ sở TAND huyện Khoái Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/HSST ngày 10/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Ngọc H1, sinh ngày 05/05/1986.
Tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: 9/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Đào Ngọc K, sinh năm 1954.
Con bà: Hoàng Thị Đ, sinh năm 1959.
Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị can là thứ ba.
Vợ: Đã ly hôn.
Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2010, bé sinh năm 2012.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 14/11/2023 bị Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 6 tháng, tính từ ngày 14/11/2023.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/11/2024. Hiện bị can đang tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh H.
- Người bị hại: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1970.
Trú tại: Thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Ngọc T1, sinh năm 1983.
Trú tại: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 25/8/2024, Đào Ngọc H1 sinh năm 1986 ở thôn C, xã T, huyện K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio biển số 29B1 – 315.53 đi từ khu đô thị E thuộc huyện V, tỉnh Hưng Yên về qua thôn B, xã T, huyện K. Khi đi đến cửa hàng “ SPA LINH NGUYỄN”, H1 phát hiện có 01 chiếc xe mô tô Honda Dream được xác định là của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 ở thôn A, xã B, huyện K dựng trước cửa quán. H1 thấy trên móc treo phía trước của xe có 01 túi nilon chứa 01 kg giò; 01 kg chả; 02 kg xúc xích làm từ thịt lợn và 01 bao tải chứa 10 kg gạo tẻ. Quan sát xung quanh không có ai trông coi, quản lý nên H1 điều khiển xe mô tô 29B1 – 315.53 đến gần chiếc xe nêu trên. Sau đó H1 chuyển toàn bộ túi nilon chứa số giò, chả, xúc xích và bao gạo từ xe của chị T sang xe của mình rồi điều khiển xe đi về nhà ở xã T, huyện K. Trên đường đi, túi nilon chứa giò, chả, xúc xích bị rơi mất. Còn bao tải gạo, H1 bán cho một người phụ nữ không rõ lai lịch được 100.000 đồng. Số tiền có được do trộm cắp, H1 sử dụng để mua xăng của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực xã H, huyện K. Bút lục số: 77 – 91.
Ngày 16/9/2024, chị Nguyễn Thị T có đơn trình báo gửi Công an xã T đồng thời giao nộp 01 USB, bên trong có 01 file video ghi lại toàn bộ hành vi phạm tội của Đào Ngọc H1. Đến ngày 17/9/2024, Công an xã T đã chuyển tin báo nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện K để xử lý theo thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận, cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định hình ảnh trong file video do chị T cung cấp và yêu cầu định giá đối với số tài sản mà H1 đã trộm cắp.
Kết luận giám định số 350 ngày 05/11/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong File video gửi giám định.
Kết luận định giá tài sản số 44 ngày 05/11/2024 của Hội đồng định giá – Ủy ban nhân dân huyện K kết luận: tổng giá trị tài sản của chị T bị chiếm đoạt vào ngày 25/8/2024 là: 800.000 đồng.
- Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 29B1 – 315.53 có đăng ký chủ sở hữu ban đầu là Đinh Văn S sinh năm 1979 ở D đường L, quận B, thành phố Hà Nội. Xe được H1 mua lại của một người không rõ lai lịch tại thành phố Hà Nội vào năm 2021. Xe không phải là vật chứng của vụ án nào. Hiện cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, H1 đã nhờ anh trai là anh Đào Ngọc T1 sinh năm 1983 ở thôn C, xã T, huyện K bồi thường cho chị T số tiền 800.000 đồng. Chị T đã nhận số tiền nêu trên và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can.
Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKS – KC, ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Đào Ngọc Hùng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015.
Tại phiên toà hôm nay:
[1]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo H1 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 173, b, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo H1 từ 09 tháng đến 01 năm 09 tù; Chuyển 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 06/2021/HSST ngày 20/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội về tội “Trộm cắp tài sản” thành 09 (C) tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án buộc bị cáo phải thi hành, thời gian đã tạm giữ của bản án số 204/2023/HSST ngày 14/11/2023 (từ ngày 31/7/2023 đến ngày 09/8/2023 là 09 (Chín) ngày, được đối trừ khi bị cáo chấp hành bản án này, thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết.
[2]. Bị cáo H1 nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải. Được nói lời sau cùng bị cáo H1 xin lỗi bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo ở mức án thấp nhất.
[3]. người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đào Ngọc T1 trình bày: Số tiền 800.000 đồng anh đã bồi thường cho chị T thay bị cáo H1 là tài sản riêng của anh, anh không yêu cầu bị cáo H1 phải trả lại cho anh. Ngoài ra anh đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo H1 là đã ly hôn vợ, một mình nuôi hai con nhỏ, do vậy đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất để sớm trở về chăm sóc các con.
[4]. Người bị hại chị T có đơn xin vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1; người làm chứng là L đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án họ đã có lời khai, quan điểm rõ ràng, việc vắng mặt chị T, chị L tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của BLTTHS năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường, đơn trình báo và lời khai của người bị hại là bà Nguyễn Thị T, kết luận giám định, lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đào Ngọc T1, lời khai của người làm chứng là chị Nguyễn Thị L, vật chứng thu giữ được và phù hợp với tất cả các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 25/8/2024 tại khu vực trước cửa quán “ SPA LINH NGUYEN” thuộc thôn B, xã T, huyện K, Đào Ngọc H1 (đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích) có hành vi trộm cắp 01 kg giò; 01 kg chả; 02 kg xúc xích làm từ thịt lợn và 10 kg gạo tẻ của chị Nguyễn Thị T. Tổng trị giá tài sản mà H1 chiếm đoạt là 800.000 đồng.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đang trong độ tuổi lao động, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn hưởng lợi nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết chấp hành và tuân thủ pháp luật.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 30/7/2020 bị Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý xâm phạm sức khỏe người khác.
Về tiền án: Ngày 14/11/2023 bị Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 6 tháng, tính từ ngày 14/11/2023.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H1 khẩn khai báo với thái độ ăn năn hối cải; Bị cáo đã tích cực tác động, đề nghị nhờ anh trai bồi thường cho người bị hại, người bị hại đã có đơn xin giảm hình phạt và không yêu cầu gì về bồi thường dân sự; (Bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang phải nuôi con nhỏ...). Số tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị không lớn nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Từ những nhận định, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về hành vi cùng loại là “Trộm cắp tài sản”, nhưng với lối sống ăn chơi, lười lao động, chỉ muốn hưởng lợi công sức của người khác. Chứng tỏ bị cáo đã không không biết rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại phạm tội do lỗi cố ý. Bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách nên cần chuyển 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội về tội “Trộm cắp tài sản” thành 09 (C) tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án buộc bị cáo phải thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 của BLHS. Nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và cũng là đáp ứng nhu cầu phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Thời gian đã tạm giữ đối với bị cáo từ ngày 31/7/2023 đến ngày 09/8/2023 là 09 (Chín) ngày của bản án số 204/2023/HSST ngày 14/11/2023 của huyện G, thành phố Hà Nội sẽ được đối trừ khi bị cáo chấp hành bản án này theo quy định tại Điều 38 của BLHS.
Vì các căn cứ, nhận định nêu trên nên đề nghị của đại diện VKSND huyện Khoái Châu về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng khoản 5 Điều 173 của BLHS để phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H1 đã tác động nhờ anh trai là anh Đào Ngọc T1 bồi thường cho chị T số tiền 800.000 đồng, chị T đã nhận số tiền này và không có đề nghị gì thêm về phần bồi thường dân sự. Anh T1 cũng không yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm đối với số tiền anh bồi thường cho chị T thay bị cáo. Do vậy không đặt ra xem xét giải quyết.
[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số 29B1 – 315.53 (Có đăng ký chủ sở hữu ban đầu là Đinh Văn S sinh năm 1979 ở D đường L, quận B, thành phố Hà Nội) là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội. Do vậy, cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền bị cáo bán 10kg cho một người phụ nữ không rõ lai lịch được 100.000đ, bị cáo dùng để mua xăng. Tuy nhiên tổng số giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp của chị T đã được bồi thường toàn bộ cho bị hại. Do vậy không truy thu số tiền 100.000đ đối với bị cáo H1.
[8]. Về án phí: Buộc bị cáo H1 phải chịu án phí HSST là 200.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của BLTTHS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65; điểm b, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Đào Ngọc H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đào Ngọc H1 tháng tù. Chuyển 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 204/2023/HSST ngày 14/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội thành 09 (Chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án buộc bị cáo phải thi hành là ........., được trừ đi thời gian đã tạm giữ của bản án số 204/2023/HSST ngày 14/11/2023, từ ngày 31/7/2023 đến ngày 09/8/2023 là 09 (Chín) ngày, bị cáo H1 còn phải chấp hành tháng ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggio biển số 29B1 – 315.53 (Có đăng ký chủ sở hữu ban đầu là Đinh Văn S sinh năm 1979 ở D đường L, quận B, thành phố Hà Nội);
(Tình trạng vật chứng như trong quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKS - KC ngày 10/01/2025 của VKSND huyện Khoái Châu).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đào Ngọc H1 phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của BLTTHS năm 2015.
Báo cho bị cáo, có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 24/01/2025), báo cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận: - TAND tỉnh HY; - VKSND tỉnh HY; VKSND huyện K/C - Nhà tạm giữ CA huyện K/C. - Chi cục THADS huyện K/C; - UBND xã Thuần Hưng, huyện KC; - Bị cáo; người bị hại; NLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Tuyền |
Bản án số 10/2025/HSST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 10/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Ngọc H1 - trộm cắp tài sản
