|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:10/2025/HSST Ngày 24 tháng 01 năm 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Vũ |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Đình Hùng |
| Ông Cao Văn Truyện | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Lê Mai Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. |
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Lành - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, (Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 152/2025/HSST ngày 13 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đại N; Sinh ngày 28 tháng 5 năm 1980 tại: Tỉnh Quảng Nam; Nơi thường trú: Tổ A, phường P, quận S, TP Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: Phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Nguyễn T (sinh năm 1956) và bà Trịnh Thị L (sinh năm 1958). Gia đình Gia đình có 03 con, bị can là con thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị Kiều H (SN 1990, đã ly hôn), có một người con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/3/2004 bị TAND TP Hồ Chí Minh tuyên phạt 04 năm tù về tội giao cấu với trẻ em. Chấp hành án tại trại giam B, tỉnh Bình Dương. Đến năm 2007 chấp hành xong; Bị bắt tạm giam ngày 09/10/2024; Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1991; trú thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Cổ phần T3; Địa chỉ: A T, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.Người Đại diện hợp pháp: bà Trần Thị Hoàng Y – Chức vụ: Giám đốc Bán hàng khu vực; Vắng mặt.
- Ông Trần Văn T2; Địa chỉ: K L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19h00 ngày 24/02/2024, Nguyễn Đại N điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo BKS 43X4-4723 đến cửa hàng Đ tại ngã tư H thuộc thôn P, xã H, huyện H để mua điện thoại do điện thoại của N bị hư. Khi vào trong cửa hàng, N thấy cửa hàng chỉ có một mình anh Nguyễn Văn T1 (Sinh năm: 1991, trú thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Quảng Nam) - là nhân viên bán hàng được giao nhiệm vụ bán hàng và quản lý, chịu trách nhiệm toàn bộ hàng hóa trong cửa hàng. N tiến đến chỗ trưng bày điện thoại cho khách trải nghiệm, dùng tay cầm 03-04 chiếc điện thoại khác nhau để xem, anh T1 thấy N liền tư vấn hỏi N muốn mua chiếc điện thoại nào, rồi mở cửa tủ trưng bày lấy ra một chiếc điện thoại S Galaxy A15 5G đưa cho N cầm xem, N thấy tủ trưng bày điện thoại mở (do anh T1 quên khóa lại), trên kệ chứa nhiều chiếc điện thoại mới nên nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại để sử dụng. N1 lúc anh T1 không để ý, N tiến đến sát cạnh tủ gương, dùng tay phải mở cánh cửa gương đang khép hờ ra, còn tay trái đưa lên kệ lấy một hộp bên trong chứa điện thoại hiệu Apple Iphone 15Promax 256GB Natural Titanium, số seri DQ7K203VTY giấu vào bên trong túi áo khoác trên của mình. Sau đó N lấy lý do không đủ tiền mua điện thoại rồi đi ra ngoài, điều khiển xe mô tô BKS 43X4-4723 bỏ đi. Khi đi được một đoạn không thấy ai đuổi theo, N dừng xe bên đường lấy chiếc hộp điện thoại vừa trộm ra kiểm tra và lấy điện thoại Iphone 15 Pro max cùng dây sạc cất vào túi áo khoác, còn chiếc hộp điện thoại N vứt bỏ xuống sông (không nhớ địa điểm) rồi chạy xe về nhà và sử dụng điện thoại này đến ngày 27/02/2024 thì trong lúc di chuyển trên đường N làm rơi mất chiếc điện thoại nên không thu hồi được.
Kết luận định giá: Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HÐÐG ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện H, kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Apple Iphone 15 Pro Max 256GB Natural Titanium, số Seri DQ7K203VTY, máy mới còn nguyên trong hộp có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là: 32.490.000 đồng (Ba mươi hai triệu bốn trăm chín mươi ngàn đồng).
Đồ vật, tài liệu tạm giữ: 01 (Một) USB hiệu Kingston màu xám, dung lượng 04GB, bên trong lưu trữ 06 file ảnh dấu vết đường vân có tên file: IMG_5829.JPG, IMG_5847.JPG, IMG_5837.JPG, IMG_5839.JPG, IMG_5844.JPG, IMG_5833.JPG (ký hiệu từ A1 đến A6); 01 (Một) chiếc USB hiệu Kingston màu xám, dung lượng 08GB, bên trong lưu 04 đoạn video được trích từ hệ thống camera ngày 24/02/2024 tại cửa hàng Đ1; 05 (Năm) dấu vết đường vân mồ hôi tay thu được tại hiện trường vụ án; 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, dung lượng 256GB, số IMEI 354950993078425, số seri LPYQ7P32VG, gắn sim số 0797.300.349; 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu S Galaxy A33 5G, màu đen, số IMEI 1: 351494693565954, số IMEI 2: 353439743565957, gắn sim số 0935.631.027 và 0768. 538.510; 01 (một) chiếc ví da màu nâu; Tiền Việt Nam đồng: 500.000 đồng; Căn cước công dân mang tên Nguyễn Đại N; Đăng ký mô tô, xe máy số 013900, BKS: 43X4 – 4723; Chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu đen, số máy 036936, số khung 036936, biển số 43X4 - 4723.
Về xử lý vật chứng: Đối với điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, dung lượng 256GB, số IMEI 354950993078425, số seri LPYQ7P32VG: Qua điều tra xác định đây là tài sản mà N đã thực hiện hành vi trộm cắp vào ngày 09/8/2024 tại cửa hàng Đ thuộc thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Ngày 26/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có công văn số 537 đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện H chuyển vật chứng là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max đang tạm giữ cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định. Ngày 27/11/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã bàn giao chiếc điện thoại này cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T xử lý là phù hợp.
Đối với các đồ vật, tài liệu tạm giữ còn lại nêu trên chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang tạm thời quản lý. Riêng số tiền 500.000 đồng, Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản Công an huyện H tại Kho bạc Nhà nước huyện H để tạm giữ, tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 chiếc USB hiệu Kingston màu xám, dung lượng 04GB và 01 chiếc USB hiệu Kingston màu xám, dung lượng 08GB.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đại N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và cho rằng việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang truy tố và Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 18/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đại N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội và tranh luận:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đại N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có căn cứ khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Đại N phạm tội trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.
Căn cứ tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình xử phạt bị cáo từ 15 – 18 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu S Galaxy A33 5G, màu đen, số IMEI 1: 351494693565954, số IMEI 2: 353439743565957, gắn sim số 0935.631.027 và 0768. 538.510; 01 (một) chiếc ví da màu nâu; Tiền Việt Nam đồng: 500.000 đồng; Căn cước công dân mang tên Nguyễn Đại Nghĩa L1 tài sản và giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu đen, số máy 036936, số khung 036936, biển số 43X4 – 4723, (Đăng ký mô tô, xe máy số 013900, BKS: 43X4 – 4723) làm phương tiện phạm tội; Chiếc xe này bị cáo mua lại của anh Trần Văn T2 năm 2014 nhưng chưa sang tên đổi chủ. Căn cứ căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự Đề nghị HĐXX tuyên tuyên tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại và không yêu cầu về dân sự nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo Nguyễn Đại N nói lời sau cùng, bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong HĐXX xem xét xử bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Vào khoảng 19h00 ngày 24/02/2024, Nguyễn Đại N điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo BKS 43X4-4723 đến cửa hàng Đ tại ngã tư H thuộc, thôn P, xã H, huyện H để mua điện thoại, lợi dụng lúc anh Nguyễn Văn T1 (là nhân viên bán hàng được giao nhiệm vụ bán hàng và quản lý, chịu trách nhiệm toàn bộ hàng hóa trong cửa hàng) sơ hở N đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 15 Pro Max 256GB Natural Titanium, số Seri DQ7K203VTY (trị giá 32.490.000₫) đang để trong kệ tủ gương trưng bày giấu vào bên trong túi áo khoác trên của mình. Sau đó N lấy lý do không đủ tiền mua điện thoại rồi đi ra ngoài, điều khiển xe mô tô BKS 43X4-4723 bỏ đi. Xét hành vi trên của bị cáo Nguyễn Đại N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo Nguyễn Đại Nghĩa là người có nhân thân xấu, bị cáo đã từng có 01 tiền án về tội giao cấu với trẻ em,bị TAND TP Hồ Chí Minh tuyên phạt 04 năm tù, sau khi ra tù bị cáo không lấy đó làm bài học để tu tâm, dưỡng tính lo làm ăn, nhưng với bản tính lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà bị cáo lại bất chấp pháp luật tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản của người khác. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo N đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải xét xử bị cáo với mức án thật nghiêm minh. Tuy nhiên, sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi toàn bộ giá trị tài sản cho cho bị hại anh Nguyễn Văn T1 số tiền 33 triệu đồng, điều đó thể hiện sự ăn năn, hối cải của bị cáo được bị hại anh T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo N được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ được HĐXX xem xét áp dụng để xử phạt bị cáo mức án phù hợp khi lượng hình.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra bị hại anh Nguyễn Văn T1 đã được gia đình bị cáo bồi thường toàn bộ giá trị tài sản số tiền là 33 triệu đồng, anh T1 đã nhận và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. HĐXX xét thấy: Về phần trách nhiệm dân sự bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong với nhau tại Cơ quan điều tra, bị hại cũng không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu S Galaxy A33 5G, màu đen, số IMEI 1: 351494693565954, số IMEI 2: 353439743565957, gắn sim số 0935.631.027 và 0768. 538.510; số tiền: 500.000 đồng; 01 (một) chiếc ví da màu nâu; Căn cước công dân mang tên Nguyễn Đại Nghĩa L1 tài sản và giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội. Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự tuyên trả lại cho bị cáo.
[6]Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu đen, số máy 036936, số khung 036936, biển số 43X4 – 4723, (Đăng ký mô tô, xe máy số 013900, BKS: 43X4 – 4723) bị cáo làm phương tiện để sử dụng vào việc phạm tội. Chiếc xe này bị cáo mua lại của anh Trần Văn T2 năm 2014 nhưng chưa sang tên đổi chủ. Căn cứ Điều 57 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự HĐXX tuyên xét thấy cần tuyên tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với 01 (Một) USB hiệu Kingston màu xám, dung lượng 04GB, bên trong lưu trữ 06 file ảnh dấu vết đường vân có tên file: IMG_5829.JPG, IMG_5847.JPG, IMG_5837.JPG, IMG_5839.JPG, IMG_5844.JPG, IMG_5833.JPG (ký hiệu từ A1 đến A6); 01 (Một) chiếc USB hiệu Kingston màu xám, dung lượng 08GB, bên trong lưu 04 đoạn video được trích từ hệ thống camera ngày 24/02/2024 tại cửa hàng Đ1 đây là hình ảnh ghi lại diễn biến việc phạm tội của bị cáo và dấu vết vân tay thu thập tại hiện trường là chứng cứ của vụ án, HĐXX xét thấy cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
[8] Án phí: bị cáo Nguyễn Đại N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
[9] Lời phát biểu đề nghị áp dụng pháp luật và mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận; Tuy nhiên, mức hình phạt mà vị đại diện VKS đề nghị mức án từ 15 -18 tháng tù là có phần nghiêm minh nên HĐXX xem xét khi quyết định để đảm bảo cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đại N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
1/ Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đại N 09 (chín) tháng tù, thời gian thụ hình tính từ ngày 09/10/2024.
2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của BLTTHS;
Tuyên xử: - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đại N 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu S Galaxy A33 5G, màu đen, số IMEI 1: 351494693565954, số IMEI 2: 353439743565957, gắn sim số 0935.631.027 và 0768. 538.510; Một chiếc ví da màu nâu; Một Căn cước công dân mang tên Nguyễn Đại N và số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng).
- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu đen, số máy 036936, số khung 036936, biển số 43X4 – 4723 (Đăng ký mô tô, xe máy số 013900, BKS: 43X4 – 4723).
(Tất cả các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo Quyết định chuyển vật chứng số 01/QĐ-VKS ngày 18/12/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện H và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng).
3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội.
Xử: Buộc bị cáo Nguyễn Đại N phải chịu 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Vũ |
Bản án số 10/2025/HSST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 10/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đại N trộm cắp tài sản
