|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HSST Ngày: 19/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 -Sơn La:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ T Tân.
- Ông Hà Ngọc Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên toà: Ông Vừ Bả Ly - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam Thuận Châu, tỉnh Sơn La:
- - Bị cáo: Lò Văn T;
- - Người tham gia tố tụng khác: Ông Đinh Văn Ăng và ông Lò Văn Thào - Cán bộ, chiến sĩ Phân trại tạm giam Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Ngày 19/11/2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La và tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 22/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 06/11/2025 đối với bị cáo:
Lò Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 30/7/2004 tại xã M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn D, sinh năm: 1976 và bà: Lò Thị Y, sinh năm: 1977; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2025 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 21/7/2025 tổ công tác Công an xã M, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản H, xã M, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Lò Văn T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng nghi là Heroine (T khai nhận là Heroine).
Ngày 21/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số chất cục bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của Lò Văn T. Kết quả xác định được khối lượng là 0,18 gam, lấy toàn bộ 0,18 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T1.
Tại kết luận giám định số 856/KL-KTHS ngày 29/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định 0,18 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ 0,18 gam, loại Heroine”. Hoàn lại 0,15 gam mẫu gửi giám định.
Ngày 21/7/2025 Công an xã M, tỉnh Sơn La phối hợp với Trạm y tế xã M, tỉnh Sơn La tiến hành xét nghiệm ma túy qua nước tiểu đối với Lò Văn T. Kết quả T dương tính với chất ma túy.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 12 giờ, ngày 21/7/2025 Lò Văn T một mình đi bộ từ nhà tại bản N, xã M, tỉnh Sơn La sang nhà Quàng Thị C, sinh năm 1983, trú tại bản H, xã M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nhà Chanh, T đã hỏi và mua được của Chanh 01gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T cầm gói ma túy ở tay trái rồi đi bộ về nhà. Khi Lò Văn T đang trên đường về nhà thì bị tổ công tác Công an xã M, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-KV2 ngày 22/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố Lò Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01mảnh nilon màu xanh được đựng trong một phong bì niêm phong + 0,15 gam Heroine ký hiệu T1.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Ý kiến của bị cáo Lò Văn T: Nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng của bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chính cho bị cáo, xin miễn hình phạt bổ sung và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tình tiết định tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Bị cáo thừa nhận ngày 21/7/2025 tại tại khu vực bản H, xã M, tỉnh Sơn La T gặp và hỏi mua ma túy của Quàng Thị C, sinh năm 1983, trú tại bản H, xã M, tỉnh Sơn La 01gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Mục đích để bản thân sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 21/7/2025 bắt quả tang Lò Văn T tàng trữ ma tuý; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong; Kết luận giám định số: 856/KL-KTHS ngày 29/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các bản tự khai của bị cáo; Biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.
Bị cáo Lò Văn T thực hiện hành vi phạm tội vào hồi 12 giờ 30 phút, ngày 21/7/2025 do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 để xét xử đối với bị cáo.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 quy định:
“ Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/7/2025 bị cáo đã có hành vi cất giấu 0,18 gam loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine với mục đích đê bản thân sử dụng của bị cáo Lò Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, mà còn ảnh hưởng sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.
-
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự.
Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ và nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản giá trị, không có thu nhập ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đối với 01mảnh nilon màu xanh được đựng trong một phong bì niêm phong là vật không còn giá trị sử dụng; Đối với 0,15 gam Heroine được hoàn lại mẫu vật gửi giám định được đựng trong một phong bì niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tuyên tịch thu tiêu huỷ vận dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với Quàng Thị C, sinh năm 1983, trú tại bản Há Tốc, xã M, tỉnh Sơn La là người Lò Văn T khai đã bán ma túy cho T. Quá trình điều tra đã tiến hành đối chất, nhận dạng giữa Lò Văn T và Quàng Thị C. Tuy nhiên, Quàng Thị C không thừa nhận hành vi bán ma túy cho T, ngoài lời khai của Lò Văn T ra không có tài liệu chứng cứ khác nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý đối với Quàng Thị C.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn T kết quả điều tra xác minh xác định: Ngày 20/7/2025 Lò Văn T đang đi chơi ở xã B, tỉnh Sơn La thì gặp một người nam giới (T không biết rõ họ tên, địa chỉ) đang sử dụng ma túy nên T đã xin và sử dụng ma túy cùng đối tượng đó. Cơ quan điều tra đã tiến hành thử ma túy thông qua nước tiểu, kết quả Lò Văn T dương tính với chất ma túy. Quá trình điều tra xác định T chưa có tiền án, tiền sự, không đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma túy, không thuộc chủ thể quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025. Do đó hành vi của bị cáo không cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy, chữa cháy; Cứu nạn cứu hộ; Phòng, chống bạo lực gia đình. Ngày 30/9/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn T bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng xét thấy là có căn cứ đúng pháp luật.
Đối với đối tượng cho Lò Văn T sử dụng ma túy ngày 20/7/2025 tại xã Bình Thuận, tỉnh Sơn La do Lò Văn T không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của Lò Văn T không có tài liệu chứng cứ khác, do đó không có cơ sở để mở rộng điều tra xử lý.
- Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01mảnh nilon màu xanh được đựng trong một phong bì niêm phong + 0,15 gam Heroine ký hiệu T1 (Mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2-Sơn La; Quyết định chuyển vật chứng số: 06/QĐ-VKS-KV2 ngày 20/10/2025 của Viện kiểm sát khu vực 2- Sơn La).
- Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Tiến Hải |
Bản án số 10/2025/HSST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T
