Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2025/HSST

Ngày: 12-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Y

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phương

Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Trung Hiếu

Ông Giàng A Khua

Ông Trần Quốc Toản

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Y tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Y xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025. Đối với bị cáo:

Họ và tên: Hờ A L - Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 24 tháng 10 năm 1989, tại huyện T, tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Yên Bái.

Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Tôn giáo: Không. Con ông Hờ Mào T, sinh năm 1957 và bà Sùng Thị M, sinh năm 1964; Có vợ là Sùng Thị L1 - sinh năm 1995 và có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Là Đảng viên bị khai trừ theo Quyết định số: 124/QĐ-UBKTHU, ngày 23-01-2025 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy T1, tỉnh Y.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07 tháng 01 năm 2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị D. Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Sùng Thị L1, sinh năm 1995

Địa chỉ: thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Yên Bái. (có mặt).

- Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Khang A L2 – Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9-2024 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái Hờ A Lầu có quen một người phụ nữ khoảng 40 đến 50 tuổi giới thiệu nhà ở xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái có hỏi mua H, L nói để tìm nếu có sẽ liên lạc lại và cho nhau số điện thoại. Đến khoảng tháng 10-2024 tại khu vực xã L, huyện T Lầu gặp một người đàn ông tên H1 nhà ở tỉnh Sơn La, L hỏi về việc có biết chỗ nào bán H không, H1 nói nếu mua về sẽ tìm. Đến ngày 05-01-2025 người phụ nữ trên gọi điện cho L hỏi mua một bánh Heroine, L gọi điện thoại cho H1 nói muốn mua một bánh Heroine, H1 nói giá 90.000.000 đồng L đồng ý và gọi điện cho người phụ nữ báo đã có Heroine giá 110.000.000 đồng/bánh, người phụ nữ đồng ý và hẹn sáng ngày 07-01-2025 giao dịch tại quốc lộ C gần đường rẽ lên xã L, huyện T. L gọi điện cho H1 hẹn sáng 06-01-2025 gặp nhau tại bãi thả trâu thuộc xã L, huyện T để giao dịch mua bán. Đúng hẹn L đem theo số tiền 90.000.000 đồng và mua được của Hờ 01 bánh Heroine, sau khi mua bán xong Hờ cho L 01 viên ma túy Hồng Phiến L đã sử dụng hết và đi về, trên đường về L giấu bánh Heroine đã mua được vào bụi cây ven đường gần nhà, đến khoảng 7 giờ 30 phút ngày 07-01-2025 L lấy bánh Heroine và đem đến điểm hẹn tại thôn I xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái, khoảng 11 giờ cùng ngày khi đang chuẩn bị giao dịch mua bán thì bị Công an bắt quả tang thu giữ 327 gam Heroine; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ; 01 xe moto nhãn hiệu Hon da Winner, Biển kiểm soát 21H1-203.51. Khám xét tại nơi ở của bị cáo không phát hiện, thu giữ tài liệu đồ vật gì.

Tại bản Kết luận giám định số: 47/KL-KTHS ngày 14-01-2025 của Phòng K Công an tỉnh Y đã kết luận:

  • - Chất bột nén thu giữ của Hờ A có khối lượng là 327 gam là ma tuý, loại Heroine.
  • Sau khi lấy 0,1 gam làm mẫu giám định, còn lại 326,9 gam Heroine.

Bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSYB-P1 ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Y truy tố bị cáo Hờ A L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Y giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hờ A L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Hờ A L 20 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
  • - Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • Tiêu hủy 326,9 gam Heroine là số ma túy còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định; 01 hộp đã mở niêm phong, toàn bộ túi ni lon, băng dính màu trắng.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ, đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 21H1-203.51
  • - Về án phí: Miễn cho bị cáo tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, xử lý vật chứng, hình phạt bổ sung và án phí mà Viện kiểm sát đã nêu trong bản luận tội và cho rằng bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng đặc biệt khó khăn, đã thành khẩn khai báo. Vì vậy đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nhất trí với nội dung bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng của bị cáo biết mình vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an tỉnh Y; của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Y và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Lời nhận tội của bị cáo còn được chứng minh bởi biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận.

    Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại bãi thả trâu xã L, huyện T, Hờ A đã mua được của một người đàn ông tên là H1 nhà ở tỉnh Sơn La 01 bánh ma túy loại Heroine có khối lượng 327 gam với giá là 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) Khoảng 11 giờ, ngày 07-01-2025, tại thôn I, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái khi đang chuẩn bị giao dịch mua bán 327 gam Heroine cho người phụ nữ thì bị bắt giữ. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

  3. Bị cáo Hờ A L là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, bị cáo hiểu rõ việc mua, bán ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi mua, bán 327 gam Heroine của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực phòng chống và kiểm soát ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

    Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Y và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, chính xác, đúng người, đúng tội, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  4. Về nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

    Tình tiết giảm nhẹ. Quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần cách ly bị cáo Hờ A L ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

  5. Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. Về hành vi khác: Đối với hành vi bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không bị xử phạt hành chính là do bị cáo đã bị tạm giam nên không bị xử phạt là phù hợp.
  7. Về vật chứng và các tài sản bị thu giữ:

    Đối với 326,9 gam Heroine là số ma tuý còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định, cần tịch thu tiêu hủy. 01 vỏ phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành. 01 (một) vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon, giấy gói, băng dính màu trắng là các vật liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng, không sử dụng được, cần tịch thu tiêu huỷ .

    Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, BKS: 21H1 – 203.51 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Cần trả lại cho vợ bị cáo để tiếp tục quản lý, sử dụng.

    Đối với 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng là vật chứng vụ án. Cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

  8. Đối với các đối tượng khác:

    Đối với số ma túy bị cáo mua được của người đàn ông tên H1. Quá trình điều tra không có căn cứ để xác định và làm rõ nên không xử lý là phù hợp.

    Đối với người phụ nữ hẹn mua ma túy của bị cáo, giới thiệu ở xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.

  9. Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đã đề nghị, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  10. Về án phí, bị cáo Hờ A L là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên toà bị cáo có đề nghị được miễn án phí Hình sự sơ thẩm. Nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hờ A L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

    Về hình phạt:

    • - Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Hờ A L : 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo: Ngày 07 tháng 01 năm 2025.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  2. Về vật chứng và tài sản đã thu giữ: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1; điểm a, điểm c khoản 2; Đểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu huỷ 326,9 gam Heroine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định; 01 vỏ phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành. 01 (một) vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon, giấy gói, băng dính màu trắng là các vật liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng, không sử dụng được
    • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho chị Sùng Thị L1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, BKS: 21H1 – 203.51, số khung RLHKC4416NY031689, số máy KC34E5034996 xe cũ đã qua sử dụng.
    • (Đặc điểm chi tiết toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-6-2025 giữa Công an tỉnh Y với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Y).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hờ A L.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Bị cáo Hờ A L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án cấp cao tại Hà Nội
  • - VKS cấp cao tại Hà Nội
  • - VKSND tỉnh;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam;
  • - Người liên quan; người bào chữa.
  • - THADS tỉnh Yên Bái;
  • - Cơ quan HS-NV Công an tỉnh (02 bản);
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh;
  • - Ủy ban kiểm tra huyện ủy T.
  • - Lưu: h/s, HS,HCTP, THA hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Ngọc Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HSST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Y về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 10/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Y
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hờ A L phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger