Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HSST.

Ngày: 05 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La:

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thu Thủy

Bà Nguyễn Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vì Thị Dung - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Vân Hồ, PC11, Công an tỉnh S:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La: Bà Đinh Thu H, kiểm sát viên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Đ – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.

Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Vân Hồ, PC11, Công an tỉnh S, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST- HS ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Hoài N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/3/1988, tại Phường M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Tổ Dân Phố C, phường M, tỉnh Sơn La; số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T, con bà Đỗ Thị T1; Bị cáo có vợ là Cao Thị T2 và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014;

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Ngày 04/9/2020, Tòà án nhân dân huyện M, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong ngày 02/11/2024.

- Nhân thân: Ngày 13/6/2017, Tòa án nhân dân huyện Mộc xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Ngày 21/7/2017 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, ngày 14/11/2018 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 11/7/2025 tổ công tác Công an xã V, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại bản Lóng Luông, xã V, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra đối với Trần Hoài N đang điều khiển chiếc xe máy BKS: 93F-35130 đi trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện N đang cầm trong lòng bàn tay phải một gói nilon màu đen bên trong có hai gói nilon màu xanh, một gói đựng chất bột màu trắng, một gói đựng 05 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY. Trần Hoài N khai nhận đó là ma túy, loại H1 và hồng phiến của N cất giấu để bản thân sử dụng. Ngoài ra thu giữ của Trần Hoài N 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 chiếc mũ bão hiểm màu đen trắng; 01 chiếc xe máy, nhãn hiệu SUZUKI màu xanh đen, BKS: 93F1- 35130, số khung RLSBF4510D0103344, số máy F4CB-10330, xe đã qua sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành Test thử ma túy đối với Trần Hoài N, kết quả dương tính với ma túy loại M và M1.

Ngày 11/7/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số tang vật nghi là ma túy thu giữ của Trần Hoài N, kết quả: Số chất bột màu trắng nghi là Heorine được 0,29 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N; 05 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp được 0,48 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N1.

Tại kết luận giám định số: 797 ngày 17/7/2025 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu N gửi giám định là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,29 gam. Mẫu ký hiệu N1 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,29 gam; Loại Heroine và 0,48 gam; Loại Methamphetamine. H2 lại mẫu giám định là 03 viên nén màu hồng, trên bề mặt viên có ký hiệu WY, ký hiệu N1 có khối lượng 0,29 gam, chất bột màu trắng ký hiệu N có khối lượng 0,15 gam và vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở.

Quá trình điều tra Trần Hoài N khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 06 giờ sáng ngày 11/7/2025 Trần Hoài N điều khiển xe máy BKS: 93F-35130 của N đi đến bản L, xã V, tỉnh Sơn La mục đích để tìm mua ma túy mang về sử dụng. Trên đường dân sinh thuộc bản L, xã V thì N đã gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 50 tuổi không quen biết 500.000 đồng Heroine và 06 viên hồng phiến, bên ngoài được gói bằng lớp nilon màu đen. Sau khi mua được ma túy Nam lấy 01 viên hồng phiến và một ít Heroine ra sử dụng, số H3 và hồng phiến còn lại N lấy 02 mảnh nilon màu xanh gói thành 02 gói riêng rồi gói chung bằng 01 mảnh nilon màu đen. Sau đó N cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe máy để đi về. Khi N đi đến khu vực bản L, xã V, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không lấy mẫu gửi giám định xác định ma túy trong cơ thể. đối với bị cáo, do vậy không có căn cứ xử lý bị cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 15/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La, truy tố Trần Hoài N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Trần Hoài N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Trần Hoài N từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong dựng 0,15 gam Heroine và 0,29 gam Methamphetamine và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói ban đầu; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen trắng, trên mũ có chữ INDEX, đã qua sử dụng.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà Nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki, màu xanh đen, biển kiểm soát 92F-351.30, có số khung RLSBF4510D0103344, số máy F4CB-103300, xe đã qua sử dụng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận với Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Ngày 11/7/2025 Trần Hoài N bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 0,29 gam Heroine và 0,48 gam Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng. Căn cứ quy định tại Điều 4, Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số Điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng của các chất ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ của Trần Hoài N là 0,29 gam Heroine + 0,48 gam Methamphetamine = 0,77 gam. Hành vi của bị cáo tàng trữ trái phép 02 chất ma túy đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

[3]. Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tàng trữ 0,29 gam Heroine và 0,48 gam Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã 01 lần bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, 01 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo nhận thức, biết rõ tác hại của ma tuý là nhà nước cấm, coi thường pháp luật, cố tình phạm tội nghiêm trọng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết năng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người không có tài sản do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[6]. Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,15 gam Heroine và 0,29 gam Methamphetamine và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong dựng 0 vỏ gói ban đầu; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm mà đen trắng, trên mũ có chữ INDEX, đã qua sử dụng là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng do vậy tuyên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki, màu xanh đen, biển kiểm soát 92F-351.30, có số khung RLSBF4510D0103344, số máy F4CB-103300, xe đã qua sử dụng. Quá trình xác minh là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện tội phạm do vậy tịch thu sung ngân sách Nhà nước

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ và vấn đề liên quan khác:

Trần Hoài N khai nhận mua của một người phụ nữ không quen biết. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh.

Bị cáo là đối tượng quản lý sau cai nghiện ma túy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành Test thử ma túy đối với bị cáo, kết quả dương tính với ma túy loại M và M1. Nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không lấy mẫu gửi giám định trưng cầu giám định ma túy trong mẫu phẩm sinh học xác định ma túy trong cơ thể theo quy định, đối với bị cáo, do vậy không có căn cứ xử lý bị cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a Luật số 86/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tuyên bố bị cáo Trần Hoài N, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Trần Hoài N 04 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong dựng 0,15 gam Heroine và 0,29 gam Methamphetamine và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói ban đầu; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen trắng, trên mũ có chữ INDEX, đã qua sử dụng.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà Nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki, màu xanh đen, biển kiểm soát 92F-351.30, có số khung RLSBF4510D0103344, số máy F4CB-103300, xe đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 14 ngày 23/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 05/11/2025.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND Khu vực 6;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Sơn La;
  • - THA hình sự;
  • - Phòng THADS khu vực 6;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hồng Nghiêm

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Trần Thị Thu Thủy

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hồng Nghiêm

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HSST ngày 05/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 10/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 11/7/2025 Trần Hoài N bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 0,29 gam Heroine và 0,48 gam Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng. Căn cứ quy định tại Điều 4, Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số Điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng của các chất ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ của Trần Hoài N là 0,29 gam Heroine + 0,48 gam Methamphetamine = 0,77 gam. Hành vi của bị cáo tàng trữ trái phép 02 chất ma túy đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger