|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HS-PT Ngày: 21- 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân
Các Thẩm phán:
Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc
Ông Nguyễn Phước Hùng
- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Thị Kim Ni – Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Mỹ Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 05/2025/TLPT-HS, ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn C và Phạm Văn S, do có kháng cáo của bị cáo và của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn C, sinh năm 1991, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958; có vợ tên Châu Thị Đa N1, sinh năm 1990 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: không;
Tiền sự: ngày 25/01/2024 bị Trưởng Công an thị xã B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi "Tổ chức đánh bạc" với số tiền 7.500.000 đồng (bị cáo đã nộp phạt).
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Văn S, sinh năm 1990, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K, sinh năm 1956 và bà Bùi Ngọc P, sinh năm 1961; có vợ tên Lê Thị Bé T, sinh năm 1992 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 năm tù, về tội "Cố ý gây thương tích" theo Bản án số 42/2020/HS-ST ngày 05/10/2020, bị cáo chấp hành xong ngày 18/8/2021.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:
Bị hại: ông Đỗ Văn L, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Tổ A, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác: Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 15/6/2024, bị cáo Nguyễn Văn C đến nhà bị cáo Phạm Văn S tại ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long dự đám giỗ bà ngoại S. Do biết C đang thù Đỗ Văn L vì nghi ngờ L đã báo tin cho Công an, về việc C tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền, nên C đã bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 7.500.000 đồng. Trong lúc nhậu, S hỏi C "có đến nhà tìm L để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn hay không", thì C trả lời "đi thì đi"; đến khoảng 15 giờ cùng ngày sau khi đã uống bia xong, C rủ S đi tìm L. S vào trong nhà của mình lấy 01 cây dao dài khoảng 50cm, mũi bằng, cán gỗ lấy áo thun màu nâu quấn cây dao lại, rồi giấu bên hông người lên xe môtô biển kiểm soát 50N1-014.50, để C chở đi tìm L. C chạy xe qua khỏi nhà L vài mét thì dừng lại, C xuống xe rút cây dao mà S giấu bên hông người, do lưỡi dao sắc làm S bị thương ở mu bàn tay trái. S đậu xe bên ngoài chờ để C cầm dao đi vào chém L, khi đi vào tới hành lang bên trái nhà thì gặp L đang ngồi trên võng, mặt hướng vào tường, lưng hướng về phía C, C hỏi L "Sao báo Công an bắt C", L trả lời "không có" thì C liền chửi thề, lúc này L cũng vừa xoay mặt lại hướng về phía C thì C cầm dao bước tới chém 01 nhát, L đưa tay phải lên đỡ nên trúng khuỷu tay phải bị thương, Lừng đẩy giá võng dạt ra để ngăn C lại, đồng thời bị té lăn về phía trước, nhưng C không dừng lại mà tiếp tục xông tới chém thêm 01 nhát nữa trúng khuỷu tay trái của L bị thương, L bỏ chạy ra phía nhà sau. Sau khi chém Lừng xong, C ra xe đưa lại cây dao cho S cất giữ, rồi điều khiển xe môtô chở S về nhà, trên đường về cách nhà S khoảng 200m thì S ném bỏ cây dao vào bụi chuối cặp lộ. C tiếp tục điều khiển xe môtô chở S đến Trạm Y tế xã M, để khâu vết thương ở mu bàn tay. Sau đó, C chở S về nhà rồi đến gặp vợ là Châu Thị Đa N1, kể lại việc đã chém L và đến Công an xã M đầu thú.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 175/KLTTCT-TTPY ngày 18/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V kết luận:
"1. Các kết quả chính:
- Vết thương cánh tay phải kích thước 10x15cm, mặt trước khuỷu tay phải do vật sắc tác động trực tiếp gây nên, đứt toàn bộ bó mạch thần kinh quay trụ giữa và toàn bộ gân gấp các ngón, cơ cánh tay quay nhị đầu, gãy một phần chỏm xương quay, được phẫu thuật điều trị. Hiện tại sẹo kích thước 22x0,2cm và 12x0,2cm, tổn thương vận động và cảm giác dây thần kinh giữa và dây thần kinh quay bên trái. Tỷ lệ 35%.
· Vết thương mặt sau khuỷu tay trái khoảng 07cm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên, đứt cơ tam đầu, gãy phần vỏ xương thân xương cánh tay được phẫu thuật điều trị, hiện tại sẹo kích thước 08x0,2cm và 06x0,2cm. Tỷ lệ 11%.
2. Kết luận: căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn L tại thời điểm giám định là 42%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư".
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C và Phạm Văn S phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo C được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 15/6/2024.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.;
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo S được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 16/8/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 288, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, khoản 2 Điều 593 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Văn C và Phạm Văn S phải bồi thường cho ông Đỗ Văn L số tiền 119.000.000 đồng (Một trăm mười chín triệu đồng)
- Ông Đỗ Văn L được nhận số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số No 0005910 ngày 22/10/2024 được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Về án phí: áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo S, C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng, tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo C, S phải chịu 6.700.000 đồng, tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn giải quyết về xử lý vật chứng, lãi suất chậm trả và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 27/11/2024, bị cáo Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 29/11/2024, bị cáo Phạm Văn S có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 10/12/2024, bị hại Đỗ Văn L có đơn kháng cáo với nội dung, yêu cầu xử lý đúng người, đúng tội và áp dụng hình phạt thích đáng đối với bị cáo Nguyễn Văn C, yêu cầu bồi thường tiếp số tiền còn lại là 83.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại trình bày như sau:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: sau khi xét xử sơ thẩm 2 bị cáo C, S kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị hại kháng cáo yêu cầu xử lý bị cáo C đúng người, đúng tội và yêu cầu bị cáo C bồi thường số tiền 83.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo C, S khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung vụ án, hai bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, còn bị hại Nguyễn Văn L1 thay đổi nội dung kháng cáo, từ yêu cầu xử lý thích đáng sang yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C, do bị cáo C đã khắc phục hậu quả xong.
Xét hành vi phạm tội của hai bị cáo C, S là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo S nhắc lại việc nghi ngờ bị hại Lừng tố giác hành vi vi phạm của bị cáo C, nên C đã bị Cơ quan Công an xử phạt vi phạm hành chính. Sau khi đã có uống bia, C kêu S đi gặp L1 để giải quyết. Trước khi đi bị cáo S lấy dao mang theo. Khi đến nhà của bị hại thì bị cáo S ngồi ở xe, còn bị cáo C lấy dao từ S đi vào và gặp L1, thì bị cáo C dùng dao chém 02 nhát gây thương tích với tỷ lệ 42% cho bị hại Lừng. Trong vụ án có 2 bị cáo tham gia, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, bị cáo C trực tiếp gây thương tích cho bị hại, còn bị cáo S giúp sức tích cực. Cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức án như vậy là tương xứng, không nặng; tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm 02 bị cáo đã bồi thường xong về vật chất cho bị hại và được bị hại xin cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt. Do đó, xét thấy kháng cáo của 02 bị cáo, của bị hại có căn cứ.
Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của 02 bị cáo, của bị hại, để sửa một phần Bản án sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15/6/2024.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn S từ 04 năm tù, đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 16/8/2024.
Cả hai bị cáo đều bị xét xử về tội: "Cố ý gây thương tích".
2. Về bồi thường thiệt hại: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 288, 584, 585, 586, 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn C bồi thường số tiền 93.000.000 đồng và bị hại ông Đỗ Văn L đã nhận đủ.
- Buộc bị cáo Phạm Văn S bồi thường số tiền 45.000.000 đồng, ông Đỗ Văn L đã nhận số tiền 40.000.000 đồng, ông L tiếp tục nhận số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số No 0005910 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Do kháng cáo được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và các bị cáo đã bồi thường xong thiệt hại, do đó, cấp phúc thẩm điều chỉnh lại án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn C và bị cáo Phạm Văn S đều trình bày: đúng như nội dung vụ án mà cấp sơ thẩm đã xét xử, hai bị cáo đã hối hận việc đã làm, xin lỗi bị hại và đã bồi thường xong thiệt hại về vật chất cho bị hại, được bị hại xin yêu cầu giảm nhẹ hình phạt; hai bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, để mau sớm trở về lo cho gia đình.
Bị hại Nguyễn Văn L1 trình bày: ông thay đổi nội dung kháng cáo không còn yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo C nữa, mà ông yêu cầu cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho cả 2 bị cáo C và S, do gia đình bị cáo C đã bồi thường đủ 93.000.000 đồng, gia đình bị cáo S đã bồi thường đủ 45.000.000 đồng. Nay ông chỉ yêu cầu được nhận 5.000.000 đồng mà gia đình bị cáo S đã nộp, như tòa sơ thẩm đã tuyên.
Bị cáo Nguyễn Văn C và bị cáo Phạm Văn S nói lời sau cùng: cả 2 bị cáo xin lỗi bị hại và đều yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt, để mau sớm trở về lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn C và Phạm Văn S khai nhận: sáng ngày 15/6/2024, bị cáo C đến nhà bị cáo S dự đám giỗ bà ngoại S. Trong lúc nhậu, S hỏi C "có đến nhà tìm L1 để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn hay không", thì C trả lời "đi thì đi", khoảng 15 giờ ngày 15/6/2024, bị cáo C nói với bị cáo S đi tìm bị hại để giải quyết mâu thuẫn. Bị cáo S vào nhà lấy 01 cây dao dài khoảng 50cm, mũi bằng, cán gỗ lấy áo thun màu nâu quấn cây dao lại, rồi giấu bên hông người lên xe môtô để bị cáo C chở đi tìm bị hại. Khi tới nhà bị hại, bị cáo S ngồi ngoài xe chờ, còn C lấy dao từ bị cáo S rồi đi đến chỗ bị hại và dùng dao chém bị hại 02 cái trúng khuỷa tay phải và khuỷu tay trái với tỷ lệ thương tích là 42%.
Do đó, mặc dù tỷ lệ thương tích của bị hại dưới 61%, nhưng do bị cáo dùng dao – hung khí nguy hiểm và phạm tội có tính chất côn đồ nên việc cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Văn C và Phạm Văn S phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu về tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; chỉ vì nghi ngờ bị hại là người báo Công an để bắt và xử phạt bị cáo C về hành vi tổ chức đánh bạc; trong lúc nhậu, bị cáo S gợi ý để bị cáo C gặp bị hại để đánh trả thù; sau đó, bị cáo C nói với bị cáo S đi gặp bị hại, trước khi đi bị cáo S vào nhà lấy dao sắc bén. Khi tới nhà bị hại, bị cáo S ngồi ngoài xe, còn bị cáo C cầm dao đi vào nhà gặp bị hại, bị cáo C dùng dao chém 01 cái trúng vào khuỷu tay phải, bị hại đẩy giá võng ngăn cản và bị té lăn về phía trước. Lẽ ra, khi thấy bị hại bị thương tích và té lăn, bị cáo C phải dừng lại; trái lại, bị cáo C tiếp tục dùng dao chém thêm 01 cái trúng vào khuỷu tay trái, gây thương tích cho bị hại với tổng tỷ lệ là 42%. Qua đó, thể hiện bị cáo C cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, bất chấp pháp luật, xem thường sức khỏe của bị hại, nên cần phải xử lý các bị cáo một cách tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo; đồng thời, còn răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo về việc giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo tác động người thân bồi thường được một phần thiệt hại về vật chất cho bị hại L1. Sau khi phạm tội bị cáo C đến cơ quan Công an đầu thú; bị cáo S có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, do các bị cáo tác động nhờ gia đình đã bồi thường thiệt hại về vật chất xong cho bị hại; tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho cả 2 bị cáo, nên Hội đồng xét xử có căn cứ, để chấp nhận kháng cáo của bị hại, của 2 bị cáo, để giảm hình phạt cho các bị cáo.
[4] Đối với kháng cáo của bị hại về phần bồi thường thiệt hại: tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Đỗ Văn L trình bày về trách nhiệm dân sự gia đình bị cáo C đã bồi thường đủ số tiền 93.000.000 đồng; gia đình bị S đã bồi thường đủ 45.000.000 đồng, nên bị hại không còn yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm.
Về bồi thường thiệt hại: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 288, 584, 585, 586, 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự.
- Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Văn C đã bồi thường thiệt hại xong cho ông Đỗ Văn L số tiền 93.000.000 đồng (nhận ở cấp sơ thẩm 10.000.000 đồng và tại cấp phúc thẩm 83.000.000 đồng).
- Ghi nhận việc bị cáo Phạm Văn S đã bồi thường thiệt hại xong cho ông Đỗ Văn L số tiền 45.000.000 đồng (nhận trực tiếp 40.000.000 đồng và tiếp tục nhận số tiền 5.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số No 0005910 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long).
[5] Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát, về việc chấp nhận kháng cáo của 2 bị cáo và của bị hại là có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: do kháng cáo của 2 bị cáo được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự. Các bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong, nên các bị cáo cũng không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C, của bị cáo Phạm Văn S, của bị hại Đỗ Văn L và sửa một phần Bản án sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
1. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù;
Thời hạn tù được tính từ ngày 15/6/2024.
2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù;
Thời hạn tù được tính từ ngày 16/8/2024.
Cả hai bị cáo đều bị xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích”.
3. Về bồi thường thiệt hại: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 288, 584, 585, 586, 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự.
- Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn C đã bồi thường xong cho ông Đỗ Văn L số tiền 93.000.000 đồng (chín mươi ba triệu đồng).
- Ghi nhận bị cáo Phạm Văn S đã bồi thường xong cho ông Đỗ Văn L số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng); trong đó, ông Đỗ Văn L nhận trực tiếp số tiền 40.000.000 đồng, ông L tiếp tục được nhận số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số No 0005910 ngày 22/10/2024 cuả Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm g khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo C, bị cáo S không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm và không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Tân |
Bản án số 10/2025/HS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 10/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
