Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HSPT

Ngày: 20/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Anh Đức;

Các Thẩm phán : Bà Trương Thị Anh;

Ông Lê Ngọc Lâm.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 341/2024/HSPT ngày 16/12/2024 đối với bị cáo Trương Đình H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 80/2024/HSST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị cáo kháng cáo: Trương Đình H; sinh năm 1968 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đình T, sinh năm 1936 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1941; Có vợ là Trần Thị H1 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 22/8/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Trịnh Ngọc N và luật sư Nguyễn Thị T2 - Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Lô A đường D, KĐT Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Ngô Thị H2, sinh năm: 1968. Có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

* Những người làm chứng:

  • + Ông Trần Đức D, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt tại phiên tòa.
  • + Anh Trần Văn Đ, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Trần Văn T3, sinh năm 1964 và ông Trương Đình H, sinh năm 1968, cùng trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có quan hệ anh em với nhau. Chiều ngày 13/6/2023, anh Lưu Khắc B, sinh năm 1993 và anh Trần Văn Đ, sinh năm 1993 (là con trai ông T3), rủ một số người ăn cơm, uống bia rượu tại khu vực sảnh trước nhà chính của ông T3, gồm có anh Trần Đức K, sinh năm 1982, trú tại khu phố A T, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; ông Trần Đức D, sinh năm 1968; anh Phan Nhật T4; sinh năm 1986; ông Trương Đình H, sinh năm 1968; bà Ngô Thị H2 (là vợ ông T3) sinh năm 1968, cùng trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Do đã ăn cơm từ trước nên ông T3 không cùng ăn, uống với những người trên mà vào nằm nghỉ trong phòng. Sau đó, ông T3 ra bàn uống nước trước cửa bếp, ngồi cùng dãy ghế với bà Ngô Thị H2 ở ngay cạnh cửa bếp. Sau khi uống nửa cốc bia và một nửa cốc rượu thì ông D đi xuống bàn uống nước, ngồi ở dãy ghế đối diện với cửa nhà bếp, nói chuyện cùng ông T3, bà H2 được khoảng 10 phút thì bà H2 đứng dậy đi vào bếp. Lúc này Trương Đình H cũng không ăn uống nữa mà đi từ hè xuống bàn uống nước. Khi thấy Trương Đình H đi xuống, ông D đứng dậy, đi đến ngồi kế bên trái của ông T3, còn Trương Đình H ngồi xuống vị trí ghế ngoài cùng ở dãy ghế đối diện với ông D và ông T3 đang ngồi. Tại bàn uống nước, Trương Đình H có lời nói trêu chọc ông D nên giữa hai người xảy ra tranh cãi, mâu thuẫn với nhau. Lúc này, Trương Đình H cúi xuống gầm bàn, cầm chiếc điếu cày hình trụ dài 63,5cm, loại ống tre màu nâu vàng đen, miệng điếu được bọc đồng màu vàng của gia đình ông T3 để hút thuốc và nói với ông D “Thế bây giờ mi thích cái chỉ”, ông D trả lời “Đ.m tau đéo thích cái chi cả”, thì Trương Đình H đứng dậy, tay phải cầm chiếc điếu cày, đi sang phía ông D, thấy vậy ông D cũng đứng lên. Ông T3 đang ngồi phía sau ông D, quan sát thấy vậy thì nghĩ Trương Đình H sẽ đánh ông D nên nhổm người dậy về phía trước để can ngăn. Cùng lúc này, Trương Đình H dùng tay phải cầm ở phần miệng điếu cày giơ lên, vụt theo phương ngang từ phải sang trái về phía ông D, tuy nhiên, ông D tránh về phía bàn uống nước nên phần đế điếu của chiếc điếu trúng vào vùng mắt trái của ông T3 khiến ông T3 bị thương, lùi về phía sau gục xuống nền sân. Khi thấy phần đế điếu trúng vào mắt trái của ông T3, Trương Đình H vứt chiếc điếu xuống sân gạch gần bàn uống nước rồi lao vào đánh nhau bằng tay không với ông D. Lúc này, tay phải ông D cầm 01 cốc thuỷ tinh trên bàn, ném về phía Trương Đình H nhưng không trúng mà trúng vào tường nhà bếp khiến cốc bị vỡ. Ông D và Trương Đình H tiếp tục dùng tay không lao vào đánh nhau ngay tại vị trí ông D ngồi. Khi nghe tiếng cốc vỡ, bà Ngô Thị H2 và anh Trần Văn Đ đang ở sảnh trước nhà chính (nơi mọi người ăn uống trước đó) nhìn về phía bàn uống nước thấy ông D và Trương Đình H đang đánh nhau thì chạy tới can ngăn, kéo ông D về phía gần sân và đẩy Trương Đình H về phía bếp. Ông D chạy ra lấy một thanh sắt định lao vào đánh Trương Đình H thì anh Đ lấy được thanh sắt. Khi nhìn thấy ông T3 bị chảy máu ở mắt bà

H2 hỏi thì ông T3 nói bị Trương Đình H đập điếu cày vào mắt. Nghe vậy, bà H2 bực tức đã nhặt chiếc điếu cày lên đập về phía Trương Đình H một cái nhưng Trương Đình H đỡ, túm được điếu cày nên không bị thương tích gì. Sau đó, bà H2 đuổi Trương Đình H về, ông D cũng ra về sau đó. Ông T3 được bà H2 và một số người nữa đưa vào phòng ở sau đó đưa đi cấp cứu và điều trị tại các cơ sở y tế.

Đến ngày 20/6/2023, bà Ngô Thị H2 đến Công an xã T để tố giác hành vi của Trương Đình H đồng thời giao nộp chiếc điếu cày nêu trên. Công an xã T tiếp nhận nội dung vụ việc, sau đó chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình xem xét dấu vết thân thể đối với ông Trần Văn T3 ghi nhận thương tích như sau:

  • - Phần ổ mắt trái và xung quanh bầm tím, tụ máu trong diện (5x7)cm, vết bầm tím tập trung nhiều ở ½ đầu mắt trái.
  • Vị trí gồ mắt, trên lông mày trái kéo dài theo chiều đồng hồ xuống đuôi mắt trái, phía trên gò má trái có vết rách da, bờ mép nham nhở, chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, kích thước (8x0,2)cm, hiện tại đã được khâu xử lý.
  • - Mắt trái tụ máu, mờ đục nhãn cầu và xẹp hơn so với mắt phải.”

Tại bản kết luận giám định số 1165/KLTTPY-PYTH ngày 03/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T3 tại thời điểm giám định là 54%.

Tại bản kết luận giám định số 1166/KLVGTT-TTPY ngày 08/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận:

  • “- Phần ổ mắt trái và xung quanh bầm tím: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương vỡ nhãn cầu, phòi kẹt tổ chức nội nhãn, xuất huyết nội nhãn, rách da mi; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng thị lực mắt trái ánh sáng âm tính, mất chức năng hoàn toàn.
  • - Trên lông mày trái phía trên gò má trái có vết rách da, bờ mép nham nhở:
  • Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt hình tròn vòng cung ngang mức từ cung lông mày trái qua góc ngoài mắt trái đến bờ trên gò má trái.
  • - Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
  • - Kết luận khác.
  • + Nếu đối tượng sử dụng điếu cày có đặc điểm như đã ghi nhận trong Quyết định trưng cầu giám định số 231/QĐ-ĐTTH, ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Thanh Hoá làm vật gây thương tích tác động vào cơ thể của Trần Văn T3 thì có thể gây nên thương tích đối với Trần Văn T3 như đã ghi nhận trong hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp./.”

Tại bản kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 6477/KL-KTHS ngày 20/9/2023 của V Bộ C, kết luận:

  • “1. Kết quả chính, nhận xét, đánh giá
  • Ông Trần Văn T3 bị thương tích vùng cung mày – gò má trái, rách giác củng mạc từ 10 giờ đến 03 giờ, vỡ nhãn cầu trái; vết rách da vùng cung mày trái

đến gò má trái không liên tục, hình vòng cung mở góc sang phải, hướng từ trước về sau, chếch từ trái qua phải. Các thương tích của ông Trần Văn T3 có đặc điểm do vật tày có cạnh cong gây nên.

- Phần miệng điểu và để không gắn nút cao su của chiếc điếu cày gửi giám định có đặc điểm của vậy tày có cạnh cong; các phần còn lại có đặc điểm của vật tày và vật tày có cạnh. Phần miệng điếu hoặc để điếu không gắn nút cao su của chiếc điếu cày gửi giám định gây được thương tích của ông Trần Văn T3.

2. Kết luận

Căn cứ kết quả nghiên cứu hồ sơ, mẫu vật gửi giám định, khám giám định và khám chuyên khoa, xác định: phần miệng điếu hoặc để điếu không gắn nút cao su của chiếc điếu cày gửi giám định gây được thương tích của ông Trần Văn T3, hướng tác động từ trước về sau, chếch từ trái qua phải.”

Quá trình điều tra, bị hại Trần Văn T3 khẳng định chính mắt nhìn thấy và xác nhận Trương Đình H chính là người cầm điếu cày sang để đánh ông Trần Đức D, tuy nhiên, khi mới đứng dậy (lúc này ông T3 đang nhổm người) để can ngăn thì Trương Đình H đánh không trúng vào Trần Đức D mà trúng vào vùng mắt trái của ông Trần Văn T3 gây thương tích. Mặc dù ông D không trực tiếp nhìn thấy Trương Đình H dùng điếu đánh trúng vào mắt ông T3 nhưng thấy Trương Đình H di chuyển sang phía mình, giơ tay lên sau đó ông D nghe thấy âm thanh “bộp” phía sau và nhìn thấy ông T3 ngồi thụp xuống, sau đó thấy ông T3 bị thương ở vùng mắt trái. Bị hại ông Trần Văn T3, người làm chứng bà Ngô Thị H2 và ông D đều khẳng định người hút thuốc lào và cầm điếu cày sau cùng trước khi ông Trần Văn T3 bị thương tích vào vùng mắt trái là do Trương Đình H đánh gây ra. Tại hiện trường chỉ có một chiếc điếu cày duy nhất mà Trương Đình H đã cầm và sử dụng đánh ông D.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành thực nghiệm điều tra, dựng lại tình huống theo lời khai của bị hại Trần Văn T3, Trương Đình H và lời khai của Trần Đức D. Kết quả thực nghiệm điều tra xác định: Tình huống bị đập điếu cày theo lời khai của bị hại Trần Văn T3 thì có thể gây thương tích cho bị hại. Đối với tình huống theo lời khai Trương Đình Hùng xác định chiều hướng giật chiếc điếu ngược lại bằng tay phải của Trần Đức D khi đang đứng đối diện với Trương Đình H thì không thể gây thương tích tại vùng mắt trái theo chiều từ trái sang phải đối với bị hại Trần Văn T3. Theo lời khai của Trần Đức D khai báo tuy không nhìn thấy trực tiếp Trương Đình H đập điếu trúng mắt trái của ông T3. Tuy nhiên, qua thực nghiệm tình huống xác định các vị trí của những người liên quan là cơ bản phù hợp theo tình huống khai báo của bị cáo và bị hại. Như vậy, lời khai của bị hại là phù hợp với lời khai của ông D, với những người làm chứng khác, phù hợp với biên bản xem xét thân thể, các bản kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ khác. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định Trương Đình H đã có hành vi dùng chiếc điếu cày đập gây thương tích ở vùng mắt trái cho bị hại Trần Văn T3.

Quá trình điều tra Trương Đình H không thừa nhận hành vi dùng chiếc điếu cày đánh ông Trần Đức D dẫn đến việc gây thương tích cho bị hại Trần Văn T3 mà khai báo khi Trương Đình H đứng dậy đi về phía ông Trần Đức D thì bị ông Trần Đức D ném 01 cốc thuỷ tinh về phía Trương Đình H nhưng Trương Đình H

tránh được, sau đó ông Trần Đức D chuyển cầm điếu từ tay trái sang tay phải (cầm phía dưới điếu, ngay trên nỏ điếu) và đập về phía Trương Đình H thì Trương Đình H đưa tay trái lên đỡ được phần miệng điếu và giằng co điếu cày, khi ông D giật ngược điếu lại thì phần đế điếu va trúng vào ông T3 dẫn đến ông việc ông T3 bị thương tích. Sau đó bị cáo giật được điếu từ tay ông D và ném chiếc điếu đi. Tuy nhiên, lời khai của Trương Đình H không phù hợp với diễn biến vụ án, lời khai của bị hại, những người làm chứng, các bản kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, lời khai của Trương Đình H là không có căn cứ và không được chấp nhận.

Đối với thương tích của ông Trần Đức D do Trương Đình H dùng tay đánh gây thương tích tại vùng gò má dưới mắt phải, thương tích ở phần mềm đến nay đã khỏi, ông D đã cương quyết từ chối đi giám định thương tích, do đó không có căn cứ xác định hành vi đánh gây thương tích cho ông D đối với Trương Đình H cấu thành vào tội cố ý gây thương tích. Trương Đình H cũng bị ông D dùng tay không đánh lại nhưng không bị thương tích gì cũng như không đi điều trị ở cơ sở y tế nào do đó không có căn cứ để giám định thương tích. Hành vi của ông D và Trương Đình H có dấu hiệu vi phạm hành chính, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện T để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Quá trình điều tra, do sức khoẻ yếu nên ngày 11/02/2024 ông T3 tử vong tại nhà riêng. Gia đình ông T3 thống nhất cử bà Ngô Thị H2 là người đại diện để tham gia tố tụng.

Đối với hành vi bà Ngô Thị H2 sau khi vào can ngăn ông D và Trương Đình H, thấy ông T3 bị thương và cho rằng Trương Đình H đã gây ra thương tích cho ông T3 nên bà H2 đã nhặt chiếc điếu cày lên và đập về phía Trương Đình H nhưng Trương Đình H dùng tay tỡ được. Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể Trương Đình H không phát hiện dấu vết thương tích nào. Do đó hành vi của bà H2 không cấu thành tội phạm. Đối với hành vi này Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ tài liệu liên quan đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính .

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 hộp cát tông đã được niêm phong, bên trong có một chiếc điếu cày làm bằng tre, hình trụ, có chiều dài 63,5cm màu nâu và đen là công cụ Trương Đình H dùng để đánh gây thương tích cho ông Trần Văn T3, sẽ được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành bảo quản, chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn T3 điều trị tại: Bệnh viện M 23 ngày; Bệnh viện mắt trung ương 04 ngày; Bệnh Viện đa khoa huyện T 02 lần, 1 lần 8 ngày, 1 lần 5 ngày; Bệnh viện đa khoa tỉnh M 02 lần, 1 lần 7 ngày, 1 lần 9 ngày. Ngày 06/3/2024, Người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn đề nghị yêu cầu bị cáo Trương Đình H phải bồi thường tổng số tiền 187.600.000 đồng. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, bị cáo Trương Đình H chưa bồi thường cho gia đình người bị hại.

Tại bản án sơ thẩm số 80/2024/HSST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, đã Quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trương Đình H, phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt: Bị cáo Trương Đình H 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày 22/8/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và giành quyền kháng cáo.

Ngày 15/11/2024, bị cáo Trương Đình H có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo quá cao và chưa đúng tội danh, bị cáo chỉ vô ý chứ không cố ý gây thương tích cho bị hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã xét xử, bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo từ 42 đến 48 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia định bị hại đã thỏa thuận xong nên không xem xét.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày tranh luận:

Đề nghị HĐXX xem xét bản chất vụ án thuộc trường hợp đặc biệt, bị cáo không thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại và không mong muốn gây thương tích cho bị hại giống các vụ án “Cố ý gây thương tích” thông thường khác để xem xét áp dụng mức xử phạt phù hợp, đúng bản chất hành vi của bị cáo Trương Đình H, thể hiện sự nghiêm minh, công bằng, đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra vụ án và xét xử cấp sơ thẩm, do chưa hiểu đúng về hành vi của mình, bị cáo H đã có quan điểm chưa đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình là một trong những nguyên nhân gây nên thương tích cho bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặc dù gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính lại đang bị tạm giam nhưng bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại số tiền là 111.067.383 đồng cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo; bố ruột của bị cáo là người có công với cách mạng, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định, như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Đình H nộp trong thời hạn quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Đình H khai nhận: Xuất phát từ mâu thuẫn khi ngồi nói chuyện với nhau nên vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 13/6/2023, tại bàn uống nước trước cửa bếp của gia đình ông Trần Văn T3 thuộc thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Trương Đình H đã sử dụng chiếc điếu cày làm bằng tre để đánh ông Trần Đức D nhưng do ông D tránh được nên không trúng vào người ông D mà trúng vào vùng mắt trái ông Trần Văn T3, làm ông T3 bị thương và tổn hại 54% sức khoẻ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Trương Đình H là rất nghiêm trọng và nguy hiểm, xuất phát từ mâu thuẫn trong nhỏ nhặt trong cuộc sống, bị cáo đã có hành vi dùng điếu cày gây thương tích cho bị hại. Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo không những thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình đối với quần chúng nhân dân địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Khi quyết định hình phạt, bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ là: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại giai đoạn sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận về tội danh, cũng như không thừa nhận số tiền 13.500.000 đồng là tiền khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, mà là tiền thăm hỏi hỗ trợ do gia đình bị cáo và bị hại là anh em. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với tội danh mà bản án sơ thẩm đã tuyên và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo cũng đã giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ mới, gồm: Bản sao Giấy chứng nhận được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bản sao Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng của ông Trương Đình T là bố đẻ của bị cáo; Đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo của đại diện hợp pháp của bị hại; gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 111.067.383 đồng (Một trăm mười một triệu không trăm sáu bảy nghìn không trăm tám ba đồng). Xét thấy bị cáo đã thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải và tích cực sửa chữa lỗi lầm, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo, do đó bị cáo được xem xét hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo, thấy rằng:

Bị cáo gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 54%. Quá trình điều tra và tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, bị cáo không thành khẩn khai báo, gây khó khăn trong quá trình điều tra, xét xử. Vì vậy, không có đủ căn cứ để xem xét cho bị cáo được hưởng án treo theo ý kiến của người bào chữa và người đại diện hợp pháp của bị hại.

[3] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 111.067.383đ (Một trăm mười một triệu không trăm sáu bảy nghìn không trăm tám ba đồng), bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

[4] Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Đình H, sửa bản án sơ thẩm số 80/2024/HSST ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.

  1. Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Trương Đình H, phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

    Xử phạt: Bị cáo Trương Đình H 04 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giam (22/8/2023).

  2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải nộp.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội ;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • -VKSND huyện Thạch Thành;
  • - TAND huyện Thạch Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Thạch Thành;
  • - Bị cáo;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Anh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HSPT ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 10/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger