Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 28-10-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Ngọc Điệp.

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Khanh và bà Phan Thị Thiện

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Duy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh –Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại Hội trường A - Toà án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai, hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 07/4/2006 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn Q, xã K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy T (đã chết) và bà Hà Thị N, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Chưa xác định; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền sự: Không;

Tiền án: 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản.

Ngày 29/8/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk) xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tại bản án số 24/2024/HS-ST. Ngày 31/5/2025, chấp hành xong hình phạt tù (chưa xóa án tích).

Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Cư Kuin từ ngày 18/7/2025 cho đến nay (có mặt).

* Bị hại:

- Anh Phạm Hữu T1, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn Q, xã K, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

- Chị H' N Bkrông, sinh năm 2009; Địa chỉ: Buôn M, xã E, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của chị H' N Bkrông: Bà H N Bkrông, sinh năm 1989; Địa chỉ: Buôn M, xã E, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

* Người phiên dịch từ tiếng Êđê sang tiếng phổ thông và ngược lại: Ông Y M Byă; Nơi cư trú: Thôn F, phường B, tỉnh Đắk Lắk, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Duy L, sinh ngày 07/4/2006, trú tại thôn Q, xã K, tỉnh Đắk Lắk, là người đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản. Ngày 31/5/2025, L chấp hành xong án phạt tù nhưng không trở về địa phương mà sống lang thang tại địa bàn phường T, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, L nhặt ve chai để bán lấy tiền sinh sống. Do không có phương tiện sử dụng để đi lại nên trong khoảng thời gian từ tháng 6/2025 đến tháng 7/2025, L đã thực hiện 03 vụ trộm cắp xe mô tô, xe máy tại địa bàn tỉnh Đồng Nai và tỉnh Đắk Lắk cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ vào một ngày cuối tháng 6/2025 (không nhớ rõ ngày), L đi bộ một mình đến một quán tạp hóa tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai). Tại đây, L nhìn thấy trước quán tạp hóa có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave, màu xanh, biển kiểm soát 60F3-012.19 có cắm sẵn chìa khóa trên ổ khóa xe nhưng không có người trông coi. Thấy vậy, L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này làm phương tiện đi lại. Sau đó, L đi bộ lại gần chiếc xe và dắt chiếc xe ra ngoài đường rồi bật chìa khóa, khởi động và điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đi về xã K, tỉnh Đắk Lắk. Khi về đến xã K, L không về nhà mà tiếp tục sống lang thang. Ban ngày, L sử dụng xe mô tô trên đi nhặt ve chai bán lấy tiền tiêu xài, ban đêm L ngủ qua đêm tại hoa viên thuộc xã K, tỉnh Đắk Lắk.

- Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 04/7/2025, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60F3-012.19 đi vào khu vực nhà dân ở thôn Q, xã K, tỉnh Đắk Lắk, để tìm kiếm tài sản của người dân sơ hở lấy trộm. Quá trình đi, do chiếc xe mô tô này hết xăng nên L vứt bỏ lại tại bãi đất trống trong thôn và tiếp tục đi bộ tìm kiếm xe mô tô khác để trộm cắp sử dụng làm phương tiện đi lại. Khi L đi đến trước nhà anh Phạm Hữu T1. Lúc này, L quan sát thấy cửa cổng nhà anh T1 mở, trong sân dựng 03 chiếc xe mô tô và 01 chiếc xe đạp. Thấy vậy, L đi bộ vào trong sân, quan sát thấy trong 03 chiếc xe mô tô có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave@, màu sơn: Trắng đen bạc, gắn biển kiểm soát 47T1-400.60, có cắm sẵn chìa khóa trên ổ khóa xe. Quan sát xung quanh không có người trông coi, nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp và dắt xe mô tô biển kiểm soát 47T1-400.60 ra ngoài đường, bật chìa khóa, khởi động và điều khiển xe tẩu thoát đến hoa viên xã K, tỉnh Đắk Lắk để sử dụng làm phương tiện đi lại.

- Vụ thứ ba: Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 14/7/2025, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47T1-400.60 đi từ hoa viên thuộc xã K, tỉnh Đắk Lắk theo các tuyến đường trong xã E, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, L đi đến một lò gạch thuộc buôn M, xã E, tỉnh Đắk Lắk thì xe mô tô bị thủng lốp không di chuyển được. Khi đó, L đẩy xe mô tô vào bên trong lò gạch để cất giấu và đi bộ tìm kiếm chiếc xe mô tô khác để trộm cắp sử dụng làm phương tiện đi lại. Sau đó, L nhìn thấy trong lò gạch có dựng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu VIET THAI, số loại: Sirius VT, màu sơn: đen, gắn biển kiểm soát 47AX-017.79 của chị H’ Nguyen Bkrông đang cắm sẵn chìa khóa trên ổ khóa xe. Quan sát xung quanh không có người quản lý, trông coi. Nên L dắt xe ra ngoài đường, bật chìa khóa, khởi động và điều khiển xe tẩu thoát về ngủ tại hoa viên thuộc xã K, tỉnh Đắk Lắk và sử dụng làm phương tiện đi lại.

Đến ngày 17/7/2025, khi L đang điều khiển chiếc xe máy biển kiểm soát 47AX-017.79 lưu thông tại khu vực hoa viên thuộc xã K, tỉnh Đắk Lắk thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt giữ, tạm giữ 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 47AX-017.79 (BL 108-109; 117-119; 121-123; 141; 142; 151-154).

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTX ngày 25/7/2025, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, trị giá của chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát 47T1- 400.60 là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng); trị giá của chiếc xe máy gắn biển kiểm soát: 47AX-017.79 là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) (BL 44).

Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38 điểm h, s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/7/2025.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ trả lại các tài sản sau cho các chủ sở hữu gồm:

  • + 01 (một) chiếc mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave@, gắn biển kiểm soát 47T1- 400.60, số máy: JA39E2438567, số khung: RLHJA392XMY413333, màu sơn: Trắng đen bạc trả cho anh Phạm Hữu T1;

  • + 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu VIET THAI, loại: Sirius VT, gắn biển kiểm soát 47AX-017.79, số máy: VHL139FMBVTCA00220, số khung: RMNSCBPMNRH000220, loại xe: Hai bánh dưới 50cm³, dung tích: 49,6cm³, màu sơn: đen trả lại chị H' N Bkrông.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, gắn biển kiểm soát 60F3-012.19, tên chủ xe là Phạm Trung K, trú tại Tổ B, khu phố D, T, B, Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) thuộc thẩm quyền kiểm tra xác minh, điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục kiểm tra xác minh xử lý theo theo thẩm quyền.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận được tài sản anh Phạm Hữu T1 và chị H' N Bkrông không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét sự vắng mặt của bị hại tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Vì động cơ vụ lợi cá nhân nên trong khoảng thời gian tháng 7/2025, Nguyễn Duy L đã thực hiện 02 vụ trộm cắp xe mô tô, xe máy tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave@, gắn biển kiểm soát 47T1- 400.60, trị giá 11.000.000 đồng và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu VIET THAI, gắn biển soát 47AX-017.79 trị giá 8.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 19.000.000 đồng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ Luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản của công dân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị. Xong xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, với bản chất lười lao động nhưng mong muốn có tiền tiêu sài cho cá nhân nên bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục với bị cáo trở thành người lương thiện. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, tái hòa nhập với đời sống cộng đồng trở thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và trong lần phạm tội này thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác nhau, do đó bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, sau khi bị bắt tạm giam, bị cáo Nguyễn Duy L đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội trước đây mà Cơ quan điều tra chưa phát hiện, do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cần được xem xét khi quyết định hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo và khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

[5] Về các biện pháp tư pháp:

* Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ trả lại các tài sản sau cho các chủ sở hữu gồm:

  • + 01 (một) chiếc mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave@, gắn biển kiểm soát 47T1- 400.60, số máy: JA39E2438567, số khung: RLHJA392XMY413333, màu sơn: Trắng đen bạc trả cho anh Phạm Hữu T1;

  • + 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu VIET THAI, loại: Sirius VT, gắn biển kiểm soát 47AX-017.79, số máy: VHL139FMBVTCA00220, số khung: RMNSCBPMNRH000220, loại xe: Hai bánh dưới 50cm³, dung tích: 49,6cm³, màu sơn: đen trả lại chị H' N Bkrông.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Hữu T1 và chị H' N Bkrông không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Các tình tiết khác: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, gắn biển kiểm soát 60F3-012.19, tên chủ xe là Phạm Trung K, trú tại Tổ B, khu phố D, T, B, Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) thuộc thẩm quyền kiểm tra xác minh, điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục kiểm tra xác minh xử lý theo theo thẩm quyền.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/7/2025.

2. Về các biện pháp tư pháp:

* Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ trả lại các tài sản sau cho các chủ sở hữu gồm:

  • + 01 (một) chiếc mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave@, gắn biển kiểm soát 47T1- 400.60, số máy: JA39E2438567, số khung: RLHJA392XMY413333, màu sơn: Trắng đen bạc trả cho anh Phạm Hữu T1;

  • + 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu VIET THAI, loại: Sirius VT, gắn biển kiểm soát 47AX-017.79, số máy: VHL139FMBVTCA00220, số khung: RMNSCBPMNRH000220, loại xe: Hai bánh dưới 50cm³, dung tích: 49,6cm³, màu sơn: đen trả lại chị H' N Bkrông.

(Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và anh Phạm Hữu T1 ngày 05/9/2025 và chị H' N Bkrông ngày 09/9/2025).

* Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

3. Về án phí:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Duy L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đăk Lăk;
  • - VKSND khu vực 5;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - THA phạt tù (để thi hành);
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk (PC01, PV06);
  • - Bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Ngọc Điệp

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Khanh

Phan Thị Thiện

Tạ Thị Ngọc Điệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Duy L bị tuyên bố về tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger