TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HS-ST
Ngày: 28/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Vinh;
2. Ông Lê Văn Dài;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Phụng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Nhựt Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) gồm Hội đồng xét xử, Thư ký, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, người làm chứng; Nhà tạm giữ Công an huyện T (điểm cầu thành phần) gồm các bị cáo và các chiến sĩ hỗ trợ phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/HSST-QĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Vũ L, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1995; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1970 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Từ ngày 04/8/2024 đến ngày 07/8/2024 (đầu thú); Tạm giam: Ngày 07/8/2024; Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 15/6/1990; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1970 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con lớn nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/8/2008, Toà án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án số 110/2008/HSST, chấp hành xong ngày 17/01/2009 (đã xóa án tích); Tạm giữ: Từ ngày 04/8/2024 đến ngày 07/8/2024; Tạm giam: Từ ngày 07/8/2024 cho đến nay. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Nguyễn Bá T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Hồ Văn H, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Trần Văn G, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyễn Vũ L (Linh C), sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Trần Văn Đủ E, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Võ Văn H1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Võ Kim Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Nguyễn Thị G1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Thị N1, Võ Kim Đ và Nguyễn Thị Giàu có M; Nguyễn Bá T, Hồ Văn H, Trần Văn G, Nguyễn Vũ L (L), Trần Văn Đủ E và Võ Văn H1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Vũ L, Nguyễn Khánh L1 và Nguyễn Thị G1 sinh năm 2000 là anh em ruột. Giàu cùng mẹ ruột là Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968, thuê phòng trọ số C, nhà trọ Cô H2 thuộc ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để ở. Vào ngày 14/3/2016, Nguyễn Vũ L đến nhà trọ Cô H2 chơi, có phát sinh mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau với Nguyễn Văn V, sinh năm 1992, cư trú ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 16/3/2016, G1 điện thoại cho Nguyễn Văn A, sinh năm 1996, cư trú ấp B, xã B, huyện T để nhờ hẹn V đến nhà trọ Cô H2 để giải hòa với Vũ L. Đến ngày 17/3/2016, Vũ L cũng nhận được điện thoại của P nhà ở xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (không rõ họ tên đầy đủ, năm sinh, địa chỉ cụ thể) để kêuVũ L đến nhà trọ Cô H2 gặp V để giải hòa và hăm dọa không cho G1 đi làm nếu Vũ L không đến. Sau đó, Vũ L điện thoại rủ thêm Nguyễn Khánh L1, Nguyễn Thanh P1 cư trú thành phố Cần Thơ (không rõ năm sinh và địa chỉ cụ thể) và Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1999, cư trú ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, cùng đi đến nhà trọ Cô H2 với mục đích để giải hòa.
Về nhóm của V: V điện thoại rủ thêm Hồ Văn H, sinh năm 1996, cư trú ấp B, xã B, huyện T; Đặng Đức M1 (Mạnh Lùn), sinh năm 1997, cư trú ấp B, xã B, huyện T; Trần Văn G (Quẹo), sinh năm 1996, cư trú ấp B, xã B, huyện T, và K1 (không xác định được nhân thân, lai lịch) cùng đến nhà trọ Cô H2 với mục đích giải hòa.
Đến khoảng 17 giờ ngày 17/3/2016, Vũ L và Khánh L1 cùng đi đến nhà trọ Cô H2, còn P1 và K đi đến sau. Lúc này, G1 điện thoại cho A nhờ gọi V đến. Khoảng 30 phút sau, V đi cùng A, H, Đủ E, M1, G và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà trọ Cô H2. Trong đó, V cầm theo 01 cây gỗ; H cầm 01 cây gỗ; M1 cầm 02 vỏ chai bia; G cầm 01 cục xi măng; K1 cầm 01 cây gỗ và một số người khác cầm theo dao bằng kim loại màu trắng (loại dao sửa cá). Nhóm của Vũ L nhìn thấy nhóm của V có đông người và cầm theo hung khí nên P1 nói với Vũ L và Khánh L1 đi vào phòng số 3 lánh mặt, để P1 và K nói chuyện với nhóm của V.
Do có đông người tập trung nói chuyện lớn tiếng và cự cãi với nhau nên anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1980, cư trú ấp B, xã B, huyện T, là chủ nhà trọ, đứng ra can ngăn và yêu cầu hai bên ra khỏi khu vực nhà trọ. Khi ra khỏi nhà trọ thì xảy ra đánh nhau, P1 bỏ chạy vào phòng số 3, nói Vũ L và Khánh L1 đóng cửa lại. Lúc này bên ngoài có tiếng đánh nhau và tiếng K kêu cứu nên Vũ L và Khánh L1 lấy 02 con dao loại dao sửa cá bằng kim loại màu trắng có sẵn trong phòng, mỗi người một cầm một con dao chạy ra chém lại nhóm của V. Lúc này, Vũ L mở cửa phòng chạy ra trước, tay phải cầm dao kích thước dài khoảng 20cm, rộng khoảng 05cm chém về phía trước nhiều cái vào nhóm người của V, nhưng do nghĩ ông T là người trong nhóm của V nên chém trúng gây thương tích ở vùng mũi, môi và cánh tay trái.
Khánh L1 chạy ra sau, cầm dao bằng tay phải có kích thước dài khoảng 20cm, rộng khoảng 05cm chém vào nhóm đồng bọn của V ở cuối dãy phòng trọ gây thương tích ở vùng mặt, cánh tay trái, vai và lưng của H.
Đối với Vũ L bị một người lạ mặt (không xác định được là ai) trong nhóm người của V dùng dao đâm gây thương tích ở vùng bụng bên phải; Khánh L1 bị người trong nhóm của V (không xác định được là ai) dùng dao chém gây thương tích ở ngón tay cái của bàn tay trái, cánh tay trái, vùng vai trái, cánh tay phải và vùng đỉnh đầu; K bị một người trong nhóm của V (không xác định được là ai) cầm cây đánh 01 cái trúng vào vùng đầu, K bỏ chạy thì bị những người trong nhóm của V tiếp tục đuổi theo cầm cây và vỏ chai bia đánh trúng vào vùng lưng, không xác định được bao nhiêu cái, bản thân K không đánh trả lại; riêng P1 không bị thương tích gì.
Thời điểm xảy ra đánh nhau, Võ Văn H1, sinh năm: 1996, cư trú ấp B, xã B, huyện T, đang uống cà phê một mình tại quán nước cách nhà trọ Cô H2 khoảng 20m, thấy nhiều người tụ tập phía trước cổng nhà trọ Cô H2 nên đi lại đứng xem. Nguyễn Vũ L (Linh C), sinh năm 1991, cư trú ấp B, xã B, huyện T và Trần Văn Đủ E, sinh năm 1993, cư trú ấp B, xã B, huyện T, đang uống cà phê cùng nhau tại quán H4 thuộc ấp B, xã B, huyện T, thì được H1 điện thoại cho Nguyễn Vũ L (L), nói “đang cự lộn ở gần Công ty H5 trong cụm Công nghiệp xã B, lại coi quen hay lạ”. Sau đó, Nguyễn Vũ L (L) điều khiển xe mô tô chở Đủ Em đến trước hàng rào Công ty H5, để xem. Tuy nhiên, H1, Nguyễn Vũ L (L) và Đủ E không tham gia đánh nhau và không bị thương tích gì.
Sau khi bị nhóm của Vũ L và Khánh L1 đánh trả, nhóm của V bỏ chạy ra phía ngoài đường rồi bỏ đi. Riêng Vũ L, Khánh L1, P1 và K điều khiển xe bỏ chạy. Hai bên tự đưa đi cấp cứu và điều trị.
Sau khi điều trị xong, Khánh L1 không đến làm việc theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, riêng Vũ L đến làm việc và được xem xét dấu vết trên thân thể. Sau đó, Vũ L và Khánh L1 bỏ địa phương đi làm thuê ở nhiều tỉnh, rồi đến sinh sống và làm thuê tại ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Cơ quan điều tra nhiều lần mời làm việc nhưng không được. Ngày 03/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt người đang bị truy nã đối với Khánh L1. Ngày 04/8/2024, Vũ L ra đầu thú.
* Tại Bản kết luận giám định số 155/TgT-TTPY ngày 12/5/2016, Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ thương tật của Nguyễn Bá T:
- Tỷ lệ thương tật: 14% tại thời điểm giám định.
* Tại Bản kết luận giám định số 195/TgT-TTPY ngày 09/6/2016, Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ thương tật của Hồ Văn H:
- Tỷ lệ thương tật: 22% tại thời điểm giám định.
Đối với các Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1 có đơn từ chối giám định tỉ lệ thương tật không yêu cầu xử lý hình sự đối với người đã gây thương tích cho mình.
Đối với Nguyễn Tuấn K và Đặng Đức M1 có đơn từ chối giám định tỉ lệ thương tật không yêu cầu xử lý hình sự.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần mời làm việc đối với Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn A nhưng đều không có mặt ở địa phương, Nguyễn Thanh P1 đến nay không xác định được năm sinh, địa chỉ cụ thể, nên không mời làm việc được.
* Vật chứng thu giữ, xử lý:
- 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, dài 22cm (đã qua sử dụng);
- 01 (một) khúc gỗ dài 1,2m;
- 01 (một) khúc gỗ dài 1,4m;
- 01 (một) khúc gỗ tre dài 1,05m;
- Nhiều mãnh vỡ vỏ chai bia;
- 01 chiếc dép quai kẹp màu đen, quai màu vàng (đã qua sử dụng);
- 01 chiếc dép quai kẹp màu xám (đã qua sử dụng);
- 02 chiếc dép quai kẹp màu đen (đã qua sử dụng);
- 01 nón kết màu đen (đã qua sử dụng);
- 01 nón kết màu đỏ, phần lưỡi trai màu đen (đã qua sử dụng);
- 01 (một) sim số điện thoại di động V1, số thuê bao 01699.784284, số seri: 8984048604097298961, thu giữ của Nguyễn Thị G1, không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trao trả cho G1 theo quy định.
Đối với con dao Nguyễn Vũ L sử dụng gây thương tích đã ném bỏ xuống sông khu vực xã P, huyện C không xác định địa điểm cụ thể; Nguyễn Tuấn K có mang theo 01 con dao dài khoảng 15cm, rộng khoảng 02cm, cán và lưỡi bằng kim loại màu trắng, hình dáng giống dao bấm, nhưng không gây thương tích cho ai, đã ném bỏ ở nhà trọ Cô H2, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng không có ai phát hiện giao nộp để xử lý.
* Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Nguyễn Bá T và Hồ Văn H không yêu cầu bồi thường và có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSHTB ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1 về tội “Cố ý gây thương tích”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Đối với bị cáo Nguyễn Vũ L: Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1 Điều 20 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L với mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
Đối với bị cáo Nguyễn Khánh L1: Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1 Điều 20 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh L1 với mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường nên không giải quyết.
Về xử lý vật chứng đề nghị tuyên như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đối với hành vi của Hồ Văn H, Đặng Đức M1, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn A, Đặng Đức M1, Trần Văn G (Quẹo), Nguyễn Tuấn K, Võ Văn H1, Nguyễn Vũ L (L) và Trần Văn Đ1 Em chưa đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng và do sự việc xảy ra đã lâu, hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập xử lý.
* Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát đã công bố, lời nói sau cùng của các bị cáo rất ăn năn và hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Thanh Bình Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 02/CT-VKSHTB ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình là đúng.
Do có mâu thuẫn với nhóm với nhóm của Nguyễn Văn V, Hồ Văn H, Đặng Duy M2,... nên các bị cáo Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1 đã sử dụng 02 con dao sửa cá bằng kim loại màu trắng dài khoảng 20cm, rộng khoảng 05cm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho nhiều người. Bị cáo Vũ L dùng dao đã chém gây thương tích cho Nguyễn Bá T với tỷ lệ thương tật là 14%, còn bị cáo Khánh L1 dùng dao chém gây thương tích cho Hồ Văn H với tỷ lệ thương tật là 22% vào khoảng 17 giờ ngày 17/3/2016, tại nhà trọ Cô H2, thuộc ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1 đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
[4] Xét hành vi của các bị cáo: Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo đã có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều biết con dao làm bằng kim loại là hung khí nguy hiểm; khi chém, đâm sẽ gây thương tích cho người khác hoặc dẫn đến chết người. Với bản chất thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên các bị cáo đã có hành vi phạm tội như đã nêu trên. Chứng tỏ hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
Trong vụ án này các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, nhưng không có sự câu kết bàn bạc chặt chẽ với nhau và không có sự điều khiển của người nào, nên đây là dạng đồng phạm giản đơn. Xuất phát từ hành vi của nhóm Nguyễn Văn V, Hồ Văn H3 và Đặng Duy M2 nên các bị cáo cùng nhau tiến thực hiện hành vi gây thương tích nên có vai trò như nhau. Tuy nhiên, bị cáo Khánh L1 có nhân thân xấu, sau khi phạm tội đã bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã nên cần có hình phạt nghiêm khắc hơn.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, việc đưa các bị cáo ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay là cần thiết nên cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo có thời gian học tập cải tạo trở thành người tốt có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; được các bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn; riêng bị cáo Khánh L1 đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Do đó, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi lượng hình.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng gồm: 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, dài 22cm (đã qua sử dụng); 01 (một) khúc gỗ dài 1,2m; 01 (một) khúc gỗ dài 1,4m; 01 (một) khúc gỗ tre dài 1,05m; Nhiều mãnh vỡ vỏ chai bia; 01 chiếc dép quai kẹp màu đen, quai màu vàng (đã qua sử dụng); 01 chiếc dép quai kẹp màu xám (đã qua sử dụng); 02 chiếc dép quai kẹp màu đen (đã qua sử dụng); 01 nón kết màu đen (đã qua sử dụng) và 01 nón kết màu đỏ, phần lưỡi trai màu đen (đã qua sử dụng) là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần xem xét tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12; Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 02/CT-VKSHTB ngày 08/01/2025 và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.
[12] Đối với hành vi của Hồ Văn H, Đặng Đức M1, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn A, Đặng Đức M1, Trần Văn G (Quẹo), Nguyễn Tuấn K, Võ Văn H1, Nguyễn Vũ L (L) và Trần Văn Đ1 Em cáo trạng và luận tội không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1 cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ pháp luật và hình phạt:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1 Điều 20 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2024.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1 Điều 20 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh L1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2024.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1 Điều 20 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng không xem xét giải quyết
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, dài 22cm (đã qua sử dụng);
- 01 (một) khúc gỗ dài 1,2m;
- 01 (một) khúc gỗ dài 1,4m;
- 01 (một) khúc gỗ tre dài 1,05m;
- Nhiều mãnh vỡ vỏ chai bia;
- 01 (một) chiếc dép quai kẹp màu đen, quai màu vàng (đã qua sử dụng);
- 01(một) chiếc dép quai kẹp màu xám (đã qua sử dụng);
- 02 (hai) chiếc dép quai kẹp màu đen (đã qua sử dụng);
- 01 (một) nón kết màu đen (đã qua sử dụng);
- 01(một) nón kết màu đỏ, phần lưỡi trai màu đen (đã qua sử dụng).
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Vũ L và Nguyễn Khánh L1 mỗi người phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đô |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
