Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAM LỘ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 27-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Vũ Ngọc Châu.

Các hội thẩm nhân dân: ông Lê Ngọc Long;

bà Nguyễn Thị Duyên.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lộ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên toà: bà Võ Thị Hương Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, Toà án nhân dân huyện Cam Lộ mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với:

- Bị cáo Hoàng Văn T, sinh ngày 21/01/1987, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKNKTT và chổ ở: thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S và bà Trịnh Thị D; có vợ là Trương Thị T1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009 và con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/01/2025 đến ngày 10/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Người làm chứng:

Ông Uông Văn Đ, sinh năm: 1990, nơi công tác: Đội CSGT Đường bộ cao tốc số E, Phòng 6, Cục C; vắng mặt.

Ông Trần Đức T2, sinh năm: 1993, nơi công tác: Đội CSGT Đường bộ cao tốc số E, Phòng 6, Cục C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 01/01/2025, Hoàng Văn T điều khiển xe ô tô BKS 36H-079.05 đi trên cao tốc L - C cùng Phạm Đức T3, chở cây giống keo tràm từ tỉnh Bình Định ra tỉnh Nghệ An để trả hàng. Khi đến Km 02, Phát hiện xe của Hoàng Văn T chạy quá tốc độ 91/80km/h, đồng chí cảnh sát giao thông Uông Văn Đ tổ Cảnh sát giao thông thuộc Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số E, P, Cục Cảnh sát giao thông ra hiệu lệnh cho xe của T di chuyển vào lề đường để tiến hành kiểm tra. Tuy nhiên, T không chấp hành hiệu lệnh mà điều khiển xe ô tô lách tránh sang trái và tiếp tục chạy. Theo sự phân công, đồng chí Uông Văn Đ cùng đồng chí cảnh sát cơ động Trần Đức T2 điều khiển xe ô tô chuyên dụng BKS 80A-041.39 bật đèn và còi truy đuổi. Khi phát hiện phía sau có xe của Cảnh sát giao thông đang truy đuổi, T điều khiển xe tăng ga chạy thẳng đến hết cao tốc, cho xe rẽ phải vào Quốc lộ I và tiếp tục di chuyển. Đến đoạn ngã tư Quốc lộ I giao nhau với Quốc lộ I tuyến tránh N và đường ĐT585C, ngay vị trí đèn xanh, đèn đỏ thuộc địa phận xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, xe ô tô chuyên dụng của Cảnh sát giao thông di chuyển sang đường ngược chiều, vượt lên chặn trước đầu xe ô tô 36H-079.05, đồng chí Đ xuống xe ra tín hiệu yêu cầu T điều khiển xe ô tô di chuyển vào lề đường. T điều khiển xe ô tô đi chậm, dừng lại khoảng 01 giây, rồi cho xe lách tránh sang trái, vượt qua vị trí của đồng chí Đ và xe chuyên dụng, cho xe ô tô rẽ trái đi vào đường ĐT585C rồi rẽ phải vào Quốc lộ I tuyến tránh B tiếp tục chạy về phía ngã tư S.

Đến đoạn ngã tư Quốc lộ I tuyến tránh B giao với Quốc lộ A, ngay vị trí đèn xanh, đèn đỏ, xe ô tô của Cảnh sát giao thông vượt lên phía trước chặn trước đầu xe ô tô 36H-079.05. Lúc này, đồng chí Đ và đồng chí T2 xuống đường ra tín hiệu yêu cầu T điều khiển xe ô tô di chuyển vào lề đường, T điều khiển xe ô tô di chuyển chậm và dừng lại (khoảng 05 giây). Đồng chí T2 đến mở và gõ vào cửa xe nhưng không mở được. Thấy vậy, T hạ kính cửa xe xuống và nói với đồng chí T2 “đồng chí đừng làm vậy, hư xe em, xe em có camera đấy”; sau đó, T điều khiển cho xe lách tránh qua trái khỏi vị trí đồng chí Đ và xe chuyên dụng, rồi cho xe rẽ trái đi vào Quốc lộ A tiếp tục di chuyển. Khi T đang điều khiển xe ô tô chạy trên Quốc lộ A thì xe của Cảnh sát giao thông di chuyển từ phía sau, vượt bên phải vòng lên phía trước đầu xe, rồi dừng ngay trước xe ô tô 36H-079.05, đồng chí Đ xuống xe, yêu cầu T điều khiển xe ô tô vào lề đường. Tuyền chấp hành theo chỉ dẫn điều khiển xe sát vào lề phải đường tại Km753+300 Quốc lộ A, thuộc địa phận thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị.

Quá trình làm việc, đồng chí Đ thông báo lỗi vi phạm cho T gồm: điều khiển phương tiện vi phạm về tốc độ; không chấp hành hiệu lệnh của lực lượng Cảnh sát giao thông và điều khiển phương tiện lạng lách; đồng thời yêu cầu T xuất trình giấy tờ để kiểm tra. Tuyền không xuất trình giấy tờ tùy thân và giấy tờ liên quan đến phương tiện mà đến xin đồng chí Đ linh động, bỏ qua lỗi vi phạm thì đồng chí Đ không đồng ý nên T đã nãy sinh ý định lấy tiền để đưa cho đồng chí Đ nhằm xin bỏ qua lỗi vi phạm. T đã lên ca bin xe ô tô của mình, lấy trong ví ra một số tờ tiền bỏ sẵn trong túi quần để chọn thời điểm đưa cho đồng chí Đ. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, T tiếp tục lên ca bin xe ô tô lấy từ trong ví da và trong túi quần nhiều tờ tiền Việt Nam đồng có mệnh giá 200.000 đồng đến gặp, đưa cho đồng chí Đ toàn bộ số tiền này và xin đồng chí Đ bỏ qua các lỗi vi phạm cho T. Lúc này, đồng chí Đ yêu cầu đồng chí T2 quay video và đếm toàn bộ số tiền mà T đã đưa, thông báo cho T biết có 37 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và thông báo hành vi này của T là đưa hối lộ cho lực lượng Cảnh sát giao thông với tổng số tiền là 7.400.000 đồng; đồng thời, thông báo về vụ việc cho Tổ tuần tra và mời Công an xã T đến chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi “đưa hối lộ” của Hoàng Văn T.

Tại kết luận giám định số 159/KL-KTHS, ngày 10/01/2025 của phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 37 (ba mươi bảy ) tờ giấy bạc mệnh giá 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng), trên mỗi tờ có in chữ "NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM", các từ có số seri lần lượt như sau: UK14782728, MD19182187, YD16859531, LR14679643, OQ11602633, PR10897024, CR18700893, QM11357608, RP11263156, WO18987568, SD10270879, KD19343686, IU18761547, 0019324450, YP14991838, AP18540351, VV21680006, MD19842961, KL13382618, UT14987388, MM19247869, UV21880902, HK18048864, YL21698712, LP19327482, RA19279130, CV11589203, UB16955993, JF21365623, SZ13137557, OE19682836, RY13251524, QD149791288, YH20278128, ZN21874790, OM14904417, FU11999374 là tiền thật.

Cáo trạng số 12/CT-VKSCL ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Đưa hối lộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 364 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

  1. Tuyên bố: bị Hoàng Văn T phạm tội “Đưa hối lộ”.
  2. - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 364; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 12 năm đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

  3. Xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 7.400.000 đồng.

* Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nội dung vụ án và xác định tội danh:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai, tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: khoảng 10 giờ ngày 01/01/2025, Hoàng Văn T4 điều khiển xe ô tô BKS 36H-079.05 di chuyển trên cao tốc L - C chạy quá tốc độ, bị Cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe để kiểm tra nhưng bị cáo không chấp hành mà điều khiển xe bỏ chạy và bị truy đuổi đến địa phận thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị bị cáo mới dừng lại. Vì không muốn bị xử lý về lỗi vi phạm giao thông nên Hoàng Văn T4 đã đưa số tiền 7.400.000 đồng cho đồng chí Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ để được bỏ qua, không bị xử lý trách nhiệm hành chính thì bị lập biên bản. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đưa hối lộ” quy định tại Điều 364 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Đưa hối lộ” với tình tiết định khung là “Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đến dưới 100.000.000 đồng” theo điểm a khoản 1 Điều 364 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc đưa hối lộ là vi phạm pháp luật nhưng vì không muốn bị xử phạt vi phạm hành chính mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường, tính chuẩn mực trong công tác của Cơ quan Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu đến dư luận. Vì vậy, cần có mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: không có.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Từ những phân tích trên thấy rằng: bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rỏ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với hành vi điều khiển xe ô tô bỏ chạy để tránh bị xử lý vi phạm giao thông của bị cáo T không có dấu hiệu của tội “Chống người thi hành công vụ” nên lực lực Cảnh sát giao thông đã xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 7.400.000 đồng bị cáo sử dụng để hối lộ. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Áp dụng biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị Toà án xử phạt tù cho hưởng án treo nên hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 04/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 06/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Cam Lộ đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 364; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Đưa hối lộ”.
  2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/3/2025).

Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về xử lý vật chứng: tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 7.400.000 đồng được đựng trong 01 túi niêm phong mã số NS3 1908290 bên ngoài đóng dấu của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Q. Bên trong có 37 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng (theo kết luận giám định số 159/KL-KTHS ngày 10/01/2025) của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Q.

Hiện vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/3/2025, giữa Viện kiểm sát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

  1. Về án phí: bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Cam Lộ;
  • - Phòng CSĐTHS Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - Chi cục THADS huyện Cam Lộ;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Vũ Ngọc Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự - đưa hối lộ

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đưa hối lộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T phạm tội Đưa hối lộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger