|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày: 27-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Duy Minh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Châu Thị Lệ;
- Bà Nguyễn Thị Kim Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Lưu Công Quyền – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Chế Văn T, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2002, tại thị xã A, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; Căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chế Trường L, sinh năm 1971 và bà Võ Thị L1, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo Chế Văn T bị giữ, bắt, tạm giữ từ ngày 14/11/2024 chuyển tạm giam từ ngày 20/11/2024 tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã A, đến ngày 09/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang Bảo lĩnh; có mặt.
Bị hại: Vợ chồng ông Chế Ngọc X, sinh năm 1970 và bà Phan Thị M, sinh năm 1975
Bà Phan Thị M đại diện cho ông Chế Ngọc X theo Văn bản về việc cử người đại diện ngày 15 tháng 11 năm 2024; có mặt
Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Chế Trường L, sinh năm 1971; có mặt
Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Người làm chứng:
- Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988; vắng mặt
- Lang Thị D, sinh năm 1971; vắng mặt
- Trần Ni N, sinh ngày 06/11/2006; vắng mặt
- Nguyễn Xuân H, sinh năm 2001; vắng mặt
- Đỗ Kiếm Q, sinh năm 2000; vắng mặt
- Lương Chí T2, sinh năm 2003; vắng mặt
- Phạm Văn Q1, sinh năm 2003; vắng mặt
Địa chỉ: Số C Hồ N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Số A Hồ N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 13/11/2024, Chế Văn T thấy nhà bên cạnh của vợ chồng ông Chế Ngọc X và bà Phan Thị M, ở thôn N, xã N, thị xã A đóng cửa, không có người trông coi. Do thiếu tiền tiêu xài và trả nợ, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên lén lút leo qua hàng rào lưới B40 (ngăn cách giữa nhà T và nhà ông X) vào vườn nhà ông X. Thấy cửa hông bên trái khóa ngoài, T đi ra sau nhà ông X, lấy một đoạn kim loại trên lỗ gạch tường nhà rồi dùng phá khóa cửa. Sau khi phá được cửa, T đi đến căn phòng không có cửa, ở góc phòng có một cái tủ đứng bằng gỗ loại hai cánh. Do cửa tủ bị khóa nên T tiếp tục đến vị trí lấy thanh kim loại ban đầu lấy thêm 01 (một) cái kéo bằng kim loại quay lại, dùng kéo cạy và mở được cánh cửa tủ bên phải. Thâu thấy tầng giữa của tủ có 01 (một) cái hộp gỗ màu đen, bên trong có số tiền 7.165.000 đồng nên lấy toàn bộ số tiền này giấu vào túi quần rồi để hộp gỗ về vị trí cũ. Sau đó, T thấy tầng trên cùng của tủ có 01 (một) hộp kim loại có nắp đậy nên lấy xuống kiểm tra. Thấy bên trong có 02 (hai) xấp tiền lần lượt là 20.000.000 đồng và 50.000.000 đồng, T lấy số tiền 30.000.000 đồng
3
giấu vào túi quần, bỏ lại số tiền 40.000.000 đồng vào hộp kim loại, đậy nắp và để lại vị trí cũ. Sau khi lấy được tiền, T đi theo đường cũ trở về nhà, bỏ toàn bộ số tiền vào trong cốp xe mô tô BKS 77AE-055.46. Sau đó, T điều khiển xe đến Cửa hàng điện thoại Đại Thanh A, địa chỉ số C Hồ N, phường Đ, thị xã A (do anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988, trú tại địa chỉ trên làm chủ), lấy số tiền 5.000.000 đồng trong số tiền vừa lấy trộm được nói trên đưa cho anh T1, nhờ anh T1 chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng của T. Tiếp đó, T đi sửa xe mô tô và đến Tiệm T3, địa chỉ số A Hồ N, phường Đ, thị xã A (do bà Lang Thị D, sinh năm 1971, ở tại địa chỉ trên làm chủ), tiếp tục lấy thêm 5.000.000 đồng từ số tiền lấy trộm được đưa cho bà D, nhờ bà D chuyển khoản 5.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của T rồi quay về nhà. Tại nhà, T chuyển khoản cho bạn gái tên Trần Ni N, sinh ngày 06/11/2006, trú tại thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai số tiền 8.000.000 đồng nhờ giữ giúp; chuyển trả nợ cho Nguyễn Xuân H, sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã N, thị xã A số tiền 1.000.000 đồng và chuyển trả nợ cho Đỗ Kiếm Q, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã N, thị xã A số tiền 1.000.000 đồng. Chiều tối cùng ngày, T đi chơi cùng bạn bè, tiêu xài hết số tiền 400.000 đồng; trả nợ cho Lương Chí T2, sinh năm 2003, trú tại khu vực T, phường N, thị xã A số tiền 500.000 đồng và cho Phạm Văn Q1, sinh năm 2003, trú tại khu vực N, phường N số tiền 400.000 đồng. Sau khi về nhà, T lấy toàn bộ số tiền trộm được còn lại chia ra, cất số tiền 3.800.000 đồng vào trong túi quần, còn lại số tiền 22.065.000 đồng Thâu giấu trong thùng nhựa dưới mái hiên chuồng bò của nhà T. Đến ngày 14/11/2024, Công an làm việc với T và thu giữ số tiền 25.865.000 đồng.
Vật chứng của vụ án bao gồm:
- Số tiền 25.865.000 đồng đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã A trả lại cho bà Phan Thị M.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, mặt lưng màu xanh đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã A trả lại cho Chế Văn T.
- 01 (một) đoạn kim loại đường kính 0,8cm, được uốn cong, phần dài nhất 32 cm, đã rỉ sét.
- 01 (một) cái kéo bằng kim loại dài 21 cm, phần lưỡi kéo dài 11 cm, đã rỉ sét, phần tay cầm được bọc nhựa màu xanh.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSAN ngày 17 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Chế văn T về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Chế Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
4
* Về hình phạt:
- Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Chế Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và được bị hại bà Phan Thị M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự đối với Nhà nước.
- Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình, xử phạt bị cáo Chế Văn T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
* Về vật chứng:
- 01 (Một) đoạn kim loại đường kính 0,8cm, được uốn cong, phần dài nhất 32cm, đã rỉ sét.
- 01 (Một) cái kéo bằng kim loại dài 21cm, phần lưỡi kéo dài 11cm, đã rỉ sét, phần tay cầm được bọc nhựa màu xanh.
Các vật chứng trên không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
* Về dân sự:
- Bị hại bà Phan Thị M và cũng là người đại diện cho bị hại ông Chế Ngọc X đã nhận lại số tiền bị trộm cắp và nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo Chế Văn T, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Ông Chế Trường L dùng số tiền 3.300.000 đồng bồi thường cho bà M, không yêu cầu T trả lại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Chế Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
5
của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo Chế Văn T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với những chứng cứ khác đã được thu thập. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Với mục đích cá nhân, lợi dụng nhà bà Phan Thị M đóng cửa, không có người trông coi, Chế Văn T đã lén lút cạy cửa vào trong nhà, cạy tủ và chiếm đoạt số tiền 37.165.000 đồng của vợ chồng bà Phan Thị M vào ngày 13/11/2024 tại thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tào sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình năm 2015.
[3] Xét tại thời điểm phạm tội bị cáo là người đủ khả năng để nhận thức hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách bất hợp pháp là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Chế Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường cho bị hại và được bị hại và đại diện bị hại bà Phan Thị M xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự đối với Nhà nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù có điều kiện và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
[5] Xét về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Xét về bồi thường dân sự:
6
Bị hại bà Phan Thị M và cũng là người đại diện cho bị hại ông Chế Ngọc X đã nhận lại số tiền bị trộm cắp và nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo Chế Văn T, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Chế Trường L dùng số tiền 3.300.000 đồng bồi thường cho bà M, tại phiên tòa ông Lưu K yêu cầu bị cáo T trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Xét về vật chứng của vụ án:
- 01 (Một) đoạn kim loại đường kính 0,8cm, được uốn cong, phần dài nhất 32cm, đã rỉ sét.
- 01 (Một) cái kéo bằng kim loại dài 21cm, phần lưỡi kéo dài 11cm, đã rỉ sét, phần tay cầm được bọc nhựa màu xanh.
Các vật chứng trên không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
[8] Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
[9] Về đề nghị của Kiểm sát viên: Về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị mức hình phạt và đề nghị xử lý vật chứng đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Trong vụ án này, anh Nguyễn Văn T1, bà Lang Thị D, chị Trần Ni N, anh Nguyễn Xuân H, anh Đỗ Kiếm Q, anh Lương Chí T2, anh Phạm Văn Q1 là những người nhận chuyển tiền, nhận giữ giúp, nhận tiền trả nợ và mượn nợ của T nhưng những người này không biết về nguồn gốc số tiền T đưa nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A không xem xét xử lý về hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
7
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chế văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chế Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/02/2025).
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Phan Thị M và cũng là người đại diện cho bị hại ông Chế Ngọc X đã nhận lại số tiền bị trộm cắp và nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo Chế Văn T, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng của vụ án: Tuyên tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (Một) đoạn kim loại đường kính 0,8cm, được uốn cong, phần dài nhất 32cm, đã rỉ sét.
- 01 (Một) cái kéo bằng kim loại dài 21cm, phần lưỡi kéo dài 11cm, đã rỉ sét, phần tay cầm được bọc nhựa màu xanh.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Chế Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27 tháng 02 năm 2025).
Giao bị cáo Chế Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và khoản 1 Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
Hiện các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Bình Định đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 01 năm 2025 giữa Công an thị xã N và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Duy Minh |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chế Văn T trộm cắp tài sản
