Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 24 tháng 02 năm 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lâm Thuận Tùng

Thẩm phán: bà Phan Thị Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Thanh Đoàn, ông Đặng Huy Châu và bà Lê Thị Việt Kiều.

Thư ký phiên toà: ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: ông Lê Tú Giang và ông Nguyễn Văn Thuấn - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1995, tại thị xã T, tỉnh An Giang;

nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang;

nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn Tòng N và bà Phạm Thị P; bị cáo chưa vợ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/9/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Phú Đ, Luật sư – Văn phòng Luật sư Trần Văn N1; địa chỉ: E N, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, An Giang.

Bị hại: anh Võ Văn Sang E, sinh ngày 16/3/1988; trú tại: Tổ I, ấp L, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng: Trần Thị Hồng T1, Huỳnh Thị Bảo T2, Phạm Văn K, Trịnh Thị Đạm M, Trần Văn Tòng N, Phạm Thị P (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02/2024, Trần Văn T và Trịnh Thị Đạm M (B) sống chung như vợ chồng. Đến khoảng tháng 6/2024, T về nhà tại khóm L, phường L, thị xã T sinh sống, còn M về ở trọ cùng với Trần Thị Hồng T1 (con của Mỹ) tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/9/2024, Lâm Thị Diễm H (Ý) rủ M và T1 đến nhà của H tại khóm L, phường L, thị xã T, Mỹ đồng ý và được T1 chở đến nhà của H thì gặp Võ Văn S Em cũng đến nhà của H chơi. H và T1 xin bắp về đưa cho S Em nướng. Sang E đi xuống bờ kênh để chuẩn bị nướng bắp cùng với T1, còn M thì đi mua nước uống cho S Em và T1. Lúc này, T vừa uống rượu về nhà, thấy M mang nước uống cho S Em nên ghen tức và lấy cây dao để sẵn trong cốp xe của T, đi đến sau lưng của Sang E, tay phải nắm áo Sang E, tay trái cầm dao đâm 01 nhát trúng vào vùng hông trái của Sang E. T không rút dao ra mà tiếp tục cầm dao nhấn mạnh vào vùng bụng của S Em them lần nữa. Sang Em đẩy ra và bỏ chạy, T cầm dao đuổi theo truy sát nhưng không kịp nên quay về lấy xe bỏ trốn. Sang Em được đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh A để cấp cứu, điều trị đến ngày 17/9/2024 thì xuất viện. Ngày 09/9/2024, T đến Công an phường L, thị xã T đầu thú.

Tang vật thu giữ: Một cây dao dài 19cm, cán bằng nhựa dài 7,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, nơi rộng nhất 1,2 cm, hẹp nhất 0,1 cm.

Tại Kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số: 623/24/KLTTCT-TTPY ngày 09/9/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với anh Trần Văn T: 1. Các kết quả chính: sẹo vùng hông trái, nằm xiên, kích thước (0,7 x 0,1)cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; sẹo hơi lồi, hồng, bờ sắc, tỷ lệ là 01% (không một phần trăm). Gây thấu bụng, thủng dạ dày, thủng ruột non, đã phẫu thuật nội soi đốt cầm máu; sẹo dẫn lưu trùng với sẹo mổ nội soi vùng bụng phải, kích thước (1.5 x 0.3)cm, tỷ lệ 01%; sẹo mổ nội soi vùng hạ sườn phải, kích thước (01 x 0.1)cm, tỷ lệ 01%. 2. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 51%. Cơ chế hình thành vết thương do vật sắc nhọn gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Võ Văn S Em yêu cầu bị cáo Trần Văn T phải bồi thường tổng chi phí là 50.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKSAG-P2 ngày 24/01/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đối với phần trách nhiệm dân sự bị cáo Trần Văn T đồng ý bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại Võ Văn S Em số tiền là 50.000.000 đồng, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bị cáo sẽ bồi thường sau.

Bị hại Võ Văn Sang E khai sự việc như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Về phần trách nhiệm dân sự, yêu cầu bị cáo T phải bồi thường tổng số tiền là 50.000.000đ. Ngoài ra không yêu cầu bồi thường thêm gì khác.

Người làm chứng vắng mặt khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 12 đến 14 năm tù về tội “Giết người”. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 cây dao và hộp đựng dao đã thu giữ. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 591 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Trần Văn T phải bồi thường cho bị hại Võ Văn S Em số tiền 50.000.000₫.

Người bào chữa đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Bị cáo T nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Lời cuối cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại không có ý kiến tranh luận gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: - Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/9/2024, tại bờ kênh phía trước nhà bà Lâm Thị Diễm H (Ý), thuộc khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi dùng dao sắc, nhọn (dài 19cm, cán dao bằng nhựa dài 7,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm, (nơi rộng nhất 1,2cm, hẹp nhất 0,1cm) đâm vào vùng hông trái của bị hại Võ Văn S Em, mục đích nhằm giết chết bị hại. Hậu quả làm bị hại Võ Văn S Em bị vết thương thấu bụng, thủng dạ dày, thủng ruột non, tổn thương cơ thể do thương tật gây nên là 51%, bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn T đã phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Chỉ vì mâu thuẫn ghen tuông vô cớ, bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến phạm tội. Trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án tiền sự, nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm giết chết bị hại, bị hại không chết là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý chí chủ quan của bị cáo.

Mặt khác, tội phạm được thực hiện một cách quyết liệt, thể hiện tính côn đồ hung hãn, trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm đâm từ phía sau lúc bị hại không phòng bị gì. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo được áp dụng 1 tình tiết giảm nhẹ mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào; phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, tỷ lệ thương tích của bị hại là 51%. Tuy nhiên, tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[4] Đối với hành vi giết người, do hậu quả chết người chưa xảy ra vì nguyên nhân khách quan nên bị cáo được áp dụng đường lối xử lý phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 và Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, hình phạt chính là phạt tù đã nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, tổng số tiền bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm là 50.000.000đ, sự thỏa thuận trên là tự nguyên, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về vật chứng: Đối với cây dao và vỏ bao đã thu giữ trong vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Giết người (chưa đạt)”.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15, Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 09/9/2024).

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 585, 591; Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, bị cáo Trần Văn T phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho bị hại Võ Văn S Em số tiền 50.000.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao nhọn, 01 vỏ nhựa đụng dao hình hộp chữ nhật màu trắng (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 02 năm 2025).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000₫ (Hai triệu, năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự trong hình sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Các Hội thẩm nhân dân

Đỗ Thanh Đoàn

Đặng Huy Châu

Lê Thị Việt Kiều

Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phan Thị Minh Tâm

Lâm Thuận Tùng

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao TP.Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lâm Thuận Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: GN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger