|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 24-01-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bùi Đức Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nguyễn Tiến Bộ.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà: ông Nguyễn Khắc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24/01/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/HSST ngày 29/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 13/01/2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Nam C, sinh năm 1976.
Tên gọi khác: không có.
Nơi đăng ký thường trú và và nơi ở: thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo, đảng phái: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Lê Thị B và 02 con chung, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1986.
Tên gọi khác: không có.
Nơi đăng ký thường trú và và nơi ở: thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo, đảng phái: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Vương Thị T3 và 03 con chung, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến 27/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
3. Nguyễn Văn T4, sinh năm 1982.
Tên gọi khác: không có.
Nơi đăng ký thường trú và và nơi ở: thôn T, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo, đảng phái: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị D; có vợ là Nguyễn Thị H1 và 02 con chung, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Quyết định số 140/CAH ngày 15/10/2010 của Công an huyện M xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 10/11/2010;
- + Bản án số 32/2013/HSST ngày 24/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 04 tháng tù về tội Đánh bạc, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2013 (đã được xóa án tích);
- + Bản án số 54/2017/HSST ngày 14/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/12/2017 (đã được xóa án tích);
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 đến nay. Có mặt.
4. Lưu Minh H2, sinh năm 1977.
Tên gọi khác: không có.
Nơi đăng ký thường trú và và nơi ở: thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo, đảng phái: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Huỳnh S và bà Vũ Thị C1; có vợ là Phạm Thị C2 và 02 con chung, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
5. Dương Tuấn A, sinh năm 1982.
Tên gọi khác: không có.
Nơi đăng ký thường trú và và nơi ở: thôn K, xã V (nay là xã V), huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo, đảng phái: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Công T5 và bà Đỗ Thị H3 (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị P và 02 con chung, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Quyết định số 19/QĐ-XPHC ngày 02/8/2018 bị Công an Đ1, huyện M xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 10/8/2018;
- + Bản án số 75/2021/HSST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 30 phút ngày 21/8/2024 tại nhà ở của Nguyễn Nam C, sinh năm 1976 ở thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội, Công an huyện M bắt quả tang một nhóm 05 người đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi “sâm”. Các đối tượng tham gia gồm: chủ nhà là Nguyễn Nam C; Dương Tuấn A, sinh năm 1982, địa chỉ thôn K, xã V; Nguyễn Văn T4, sinh năm 1982, địa chỉ thôn T, xã H; Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1986 và Lưu Minh H2, sinh năm 1977, cùng địa chỉ thôn T, xã Đ.
Vật chứng thu giữ:
- + Trên chiếu bạc số tiền 9.290.000 đồng;
- + 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ 52 quân;
- + Tại vị trí ngồi của C 01 ví da bên trong có số tiền 5.000.000 đồng;
- + Trên người của Dương Tuấn A số tiền 1.600.000 đồng;
- + Trên người của Lưu Minh H2 số tiền 180.000 đồng.
Tổng số tiền thu giữ là 16.070.000 đồng.
Điều tra làm rõ: khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/8/2024, Nguyễn Nam C gọi điện cho Nguyễn Tiến T1, Nguyễn Văn T4, Dương Tuấn A đến nhà đánh bạc; khi đến nơi, T4 gọi điện rủ thêm Lưu Minh H2 đến cùng tham gia đánh bạc. Khi có đủ số người chơi, C lấy ra 02 bộ bài tú lơ khơ rồi cả 5 người cùng chơi. Các đối tượng chơi dưới hình thức đánh “sâm” được thua bằng tiền và quy ước: trong mỗi ván, người chơi được chia 10 cây bài, ai hết trước là người thắng và được thu tiền của những người còn lại, quy đổi mỗi quân bài còn lại trên tay bằng 20.000 đồng. Khi có người báo “sâm” (đánh hết 10 cây không ai bắt được) sẽ được thu của mỗi người chơi 400.000 đồng. Khi có người được “sâm rồng” (10 quân bài liên tiếp nhau) thì người thắng được thu của mỗi người còn lại 800.000 đồng, nếu người “báo sâm” bị người khác chặn thì người báo phải trả cho người chặn số tiền 1.200.000 đồng. Người nào đánh quân bài “số 2” bị chặn “tứ quý” thì phải trả riêng cho người chặn 400.000 đồng. Người nào kết thúc ván vẫn còn cả 10 lá bài trên tay (gọi là cháy) thì phải trả cho người thắng ván đó là 300.000 đồng. Trường hợp người được “sâm” thì phải trích ra 50.000 đồng và trường hợp thu được tiền của người “cháy” thì người thắng phải trích ra 20.000 đồng cho chủ nhà. Trong thời gian chơi, T1 và T4 mỗi người được 02 ván “sâm”; đã trả đối trừ cho C 50.000 đồng mỗi ván. Tổng cộng C được hưởng số tiền 200.000 đồng. Các đối tượng chơi đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.
Trong tổng số tiền 16.070.000 đồng bị thu giữ, các bị cáo khai nhận:
- - Nguyễn Nam C khai có 6.000.000 đồng, mới bỏ ra 1.000.000 đồng để chơi. Quá trình chơi Cao thắng nên cho H2 vay 1.000.000 đồng. Khi bị bắt C đang còn 5.000.000 đồng để trong ví và đã bị thu giữ.
- - Lưu Minh H2 khai mang theo 400.000 đồng, chơi được khoảng 02 ván thì thua hết nên có vay Cao 1.000.000 đồng, khi bị bắt ngoài số tiền trên chiếu, trong người H2 có 180.000 đồng.
- - Nguyễn Tiến T1 khai mang theo 2.890.000 đồng, khi bị bắt tất cả số tiền đều để dưới chiếu bạc.
- - Nguyễn Văn T4 khai mang theo khoảng 3.000.000 đồng, khi bị bắt vứt toàn bộ tiền dưới chiếu bạc nên không nhớ thắng hay thua.
- - Dương Tuấn A khai mang theo khoảng hơn 2.000.000 đồng, khi bị bắt ngoài số tiền dưới chiếu, trong người còn có 1.600.000 đồng.
Cáo trạng số 68/CT-VK-MĐ ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố Nguyễn Nam C, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Tiến T1, Dương Tuấn A và Lưu Minh H2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- - Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T4, Dương Tuấn A mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù về tội Đánh bạc.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Nam C từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Tiến T1 và Lưu Minh H2, mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều không có công việc và nghề nghiệp ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 16.070.000 đồng và tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài tú lơ khơ thu giữ của các bị cáo thu giữ khi bắt quả tang.
Về án phí: buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định: các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Xét lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: ngày 21/8/2024, tại nhà ở của Nguyễn Nam C tại thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội, các đối tượng Nguyễn Nam C, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Tiến T1, Dương Tuấn A và Lưu Minh H2 đã cùng nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Sâm”. Đến 16 giờ 30 cùng ngày thì bị Công an huyện M bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Tổng số tiền thu giữ tại chiếu và trong người các đối tượng, được chứng minh sử dụng vào việc đánh bạc là 16.070.000 đồng.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tính chất hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá mới. Xét thấy cần phải xử lý nghiêm.
[3] Xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trừ Nguyễn Văn T4 và Dương Tuấn A có nhân thân xấu thì các bị cáo còn lại đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Nam C, Nguyễn Tiến T1 và Lưu Minh H2 nhất thời phạm tội, số tiền đánh bạc ít, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân có khả năng tự cải tạo, không cần phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, việc không cách ly xã hội đối với các bị cáo không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên chỉ cần phạt tù cho hưởng án treo đối với Nguyễn Nam C, Nguyễn Tiến T1 theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt cải tạo không giam giữ đối với Lưu Minh H2 theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự cũng phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện, bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
Xem xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó Nguyễn Nam C là người chủ động gọi điện rủ T1, T4 và Tuấn A đến nhà mình đánh bạc; chuẩn bị công cụ, phương tiện và cùng tham gia đánh bạc và cho H2 vay tiền để đánh bạc; tiếp đến Nguyễn Văn T4 sau khi đến nhà C đã gọi điện rủ Lưu Minh H2 đến nhà C đánh bạc. Nên hành vi của hai bị cáo này có tính nguy hiểm cao hơn, phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác.
[4] Về việc khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo đều làm ruộng hoặc lao động tự do, thu nhập thấp, không ổn định; các bị cáo C, T1, H2 đều có đơn trình bày hoàn cảnh, xin giảm nhẹ hình phạt được chính quyền địa phương xác nhận, nên Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ một phần thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: số tiền 16.070.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc và trong người, các bị cáo đều khai nhận sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Chiếc ví da cũ nát bị cáo Nguyễn Nam C không nhận lại nên huỷ bỏ.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nam C, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Tiến Thanh, Dương Tuấn A và Lưu Minh H2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Nam C 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T4 08 (tám) tháng tù; thời điểm chấp hành hình phạt tù tính ngày 21/8/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Tuấn A 07 (bảy) tháng tù; thời điểm chấp hành hình phạt tù tính ngày 21/8/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Tiến T1 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Lưu Minh H2 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 21 ngày cải tạo không giam giữ, quy đổi từ 01 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 05 (năm) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện M nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lưu Minh H2 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Giao các bị cáo Nguyễn Nam C và Nguyễn Tiến T1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội và gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 16.070.000 đồng (mười sáu triệu không trăm bẩy mươi nghìn đồng); tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài tú lơ khơ và 01 ví da.
Tình trạng, số lượng và đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức ngày 25/11/2024.
Tiền hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức theo Ủy nhiệm chi số 41 ngày 22/11/2024.
- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Đức Hiệp |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
