|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 01 - 4 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Thư.
Bà Dương Thị Ngọc Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hậu - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Hà Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 01/4/2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang và điểm cầu thành phần trụ sở trại tạm giam Công an tỉnh H; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 07/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 20/3/2025 đối với bị cáo:
Bị cáo: Nguyễn Trung V; sinh năm 1997; nơi sinh: Thành phố H, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã P, thành phố H, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1971 và con bà Nguyễn Thị V2, sinh năm 1975; có vợ: Lý Thị T, sinh năm 1999 và có 01 con, sinh năm 2022; có 02 anh em ruột bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số [...] cấp ngày 26/4/2022, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ C; tạm giữ: Ngày 19/12/2024; tạm giam: Ngày 28/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Văn V1; sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn L, xã P, thành phố H, tỉnh Hà Giang (có mặt).
Anh Hoàng Đức S; sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang (vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Nông Văn D, sinh năm 2004 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19h30 ngày 19/12/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp với Công an xã M tuần tra kiểm soát tại địa bàn xã M, huyện B phát hiện tại quán K thuộc thôn N, xã M, huyện B có các đối tượng Nguyễn Trung V, (trú tại thôn L, xã P, thành phố H, tỉnh Hà Giang) và Hoàng Đức S,(trú tại thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang) đang ngồi uống nước tại bàn của quán có biểu hiện hoạt động mua bán trái phép ma túy. Kiểm tra phát hiện có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có mẫu thực vật màu xanh, nghi là ma túy (cần sa), tiền Ngân hàng N1 1.100.000đ; kiểm tra trên người Nguyễn Trung V phát hiện bàn tay phải của V đang cầm 03 túi nilon và trong túi áo bên trái có 01 túi nilong bên trong đều có mẫu thực vật màu xanh, nghi là ma túy (cần sa). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, khám nghiệm hiện trường, tạm giữ tang vật để điều tra, làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Trung V khai nhận:
Vào ngày 14/12/2024, V đăng nhập vào tài khoản Telegram của mình số điện thoại 0868.646.xxx tên “Vinh97” để tìm mua ma túy (Cần sa) để sử dụng thì được 01 tài khoản Telegram của người không quen biết đồng ý bán khoảng 30 gam ma túy (C) với giá là 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Đến 15h03 ngày 19/12/2024, V nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0385.381.xxx của Hoàng Đức S. S hỏi V có ma túy (cần sa) để bán không thì V nảy sinh ý định bán ma túy cho S để bán kiếm lời. V đồng ý bán 01 gói ma túy (cần sa) cho S với giá 5.000.000đ (Năm triệu đồng). S hẹn V khoảng 18h00 ngày 19/12/2024 gặp nhau tại quán K thuộc thôn N, xã M, huyện B để giao nhận chất ma túy và trả tiền thì V đồng ý.
Đến 16h34 cùng ngày 19/12/2024, V nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0384.808.xxx của Nông Văn D (SN 2004, trú tại thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang). D hỏi V có ma túy (cần sa) không, bán cho D 05 túi ma túy (cần sa) với giá 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) thì V đồng ý. Duẩn hẹn Vĩnh chiều ngày 19/12/2024 gặp nhau tại quán K thuộc thôn N, xã M, huyện B, V đồng ý. Tuy nhiên lúc này D chưa có tiền nên D đi tìm vay tiền nhưng không vay được tiền nên tối 19/12/2024 D đến quán K gặp V mục đích để thông báo cho V biết sẽ không mua ma tuý của V nữa.
Khoảng 18h00 ngày 19/12/2024, V cất giấu 05 gói ma túy (cần sa) trong túi áo khoác mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu sơn nâu, BKS: 23H1-8653 (mượn của ông Nguyễn Văn V1 - SN 1971, trú tại: Thôn L, xã P, thành phố H, tỉnh Hà Giang) từ nhà thuộc thôn L, xã P, thành phố H đến quán K thuộc thôn N, xã M, huyện B Khi gặp nhau D nói với V do không vay được tiền nên không mua ma túy nữa, V đồng ý rồi D đi ra ngoài vệ sinh.
Khi D đi ra lúc này S và V đang ngồi trên bàn uống nước, V lấy từ trong túi áo khoác 01 gói ma túy (cần sa) ra đặt lên mặt bàn uống nước cho S, S lấy ra số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) đặt lên bàn cho V. Thấy số tiền không đủ như đã thỏa thuận, V yêu cầu S trả thêm tiền thì S nói sẽ chuyển khoản bù cho V sau. Khi S và V đang mua bán chất ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.
Ngày 19/12/2024 cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Nguyễn Trung V thu giữ 01 túi vải bên trong có 01 dụng cụ dạng hộp hình trụ bị cáo khai dùng để xay cần sa.
Ngày 27/12/2024 tiến hành kiểm tra điện thoại của Nguyễn Trung V, ngày 03/01/2025 tiến hành kiểm tra điện thoại của Hoàng Đức S, Nông Văn D phát hiện tại phần lịch sử cuộc gọi có các cuộc gọi qua lại giữa S với V, D với S trong ngày 19/12/2024 phù hợp với các lời khai có trong hồ sơ.
Tại Bản kết luận giám định số 10090/KL-KTHS, ngày 03/01/2025 của V3 Bộ C kết luận: Các mẫu vật ký hiệu A1, A2 và A3 gửi giám định là cần sa. Khối lượng các mẫu lần lượt là 23,117g (Hai trăm phẩy một trăm mười bảy gam), 5,521g (Năm phẩy năm trăm hai mươi mốt gam), 1,638g (Một phẩy sáu trăm ba mươi tám gam).
Kết luận giám định ngày 13/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật.
Tại phiếu xét nghiệm chất ma túy ngày 19/12/2024, kết quả: Nguyễn Trung V có sử dụng chất ma túy.
Vật chứng đã xử lý:
Quá trình điều tra xét thấy số đồ vật không liên quan đến vụ án Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu gồm: Ông Nguyễn Văn V1 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, BKS: 23H1-8653; Nguyễn Trung V 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 túi vải màu xanh - đen; Nông Văn D 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu Samsung, màu đen.
Vật chứng chưa xử lý gồm:
01 phong bì màu trắng, được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ: 10090/C09(TT2), gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H"; 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu Google, màu đen; 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu đen; tiền Việt Nam 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng); 01 dụng cụ xay cần sa.
Tại cáo trạng số 10/CT-VKSBM, ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Nguyễn Trung V về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Trung V từ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù đến 25 (Hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ ngày 19/12/2024. Về hình phạt bổ sung: Không.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng, được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ: 10090/C09(TT2), gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H; 01 dụng cụ xay cần sa.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu
Google, màu đen; tiền Việt Nam 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng);
- Trả lại cho anh Hoàng Đức S 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu VIVO.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Trung V nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị, không có tranh luận gì.
Bị cáo Nguyễn Trung V thực hiện quyền nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hoàng Đức S có đơn xét xử vắng mặt; người làm chứng Nông Văn D vắng mặt không có lý do. Xét thấy bị cáo; Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có lời khai, việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản ghi lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định chất ma túy, có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 19/12/2024 bị cáo Nguyễn Trung V (SN: 1982, trú tại thôn L, xã P, thành phố H, tỉnh Hà Giang) mang theo 05 gói ma túy (cần sa) tổng khối lượng 30,276g (Ba mươi phẩy hai trăm bảy mươi sáu gam) từ nhà tại thôn L, xã P, thành phố H đến Quán K thuộc thôn N, xã M, huyện B với mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 19h30 ngày 19/12/2024 bị cáo V đã có hành vi bán cho Hoàng Đức S (SN 1998, trú tại thôn N, xã M, huyện B) 01 gói ma túy (cần sa) khối lượng 23,117 gam được số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) thì bị bắt quả tang. Ngoài ra thu giữ trên người bị cáo V 04 gói ma túy (cần sa) có tổng khối lượng là 7,159 gam, với mục đích để bán nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Như
vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Thuộc trường hợp nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bởi lẽ chất ma túy không chỉ đơn thuần là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an địa phương, làm phá vỡ hạnh phúc gia đình, thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, suy giảm giống nòi con người Việt Nam. Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy, ai vi phạm xẽ bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật; song với động cơ, mục đích lợi nhuận về kinh tế từ việc mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo bất chấp kỷ cương, coi thường pháp luật; bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Trung V nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện để nhằm mục đích thu lợi bất chính từ việc bán ma túy cho nhiều người. Do vậy, cần phải xử mức án tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- [5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
- [5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Trung V chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số. Bị cáo V từng có thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; có ông nội là Nguyễn Văn N được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Bị cáo Nguyễn Trung V đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Trong vụ án có một số hành vi đối tượng liên quan:
- [8.1] Đối với Nguyễn Trung V còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định.
- [8.2] Đối với Hoàng Đức S mua ma túy của bị cáo V 01 gói ma túy (cần sa) khối lượng 23,117 gam với giá 1.100.000đ với mục đích để sử dụng, tuy nhiên do không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Hoàng Đức S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8.3] Đối với Nông Văn D ngày 19/12/2024 đã gọi điện thoại cho bị cáo V để hỏi mua ma tuý, tuy nhiên do D không vay được tiền nên không mua ma túy nữa. Nhưng thời điểm này điện thoại của D hết tiền không liên lạc được, sợ V hiểu lầm nên D vẫn đi đến địa điểm đã hẹn mục đích để thông báo cho V biết việc sẽ không mua ma túy nữa. Do vậy hành vi mua bán ma túy giữa V và D không xảy ra nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là đúng quy định của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8.4] Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo V, bị cáo V khai không quen biết người này, quá trình giao dịch mua bán đều thông qua mạng xã hội, các thông tin cụ thể về giao dịch bị cáo đã xóa, không có căn cứ xác định nhân thân lai lịch của người này, do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
- [8.5] Đối với người đã vận chuyển số ma túy trên cho V, bị cáo V khai không nhớ tên đơn vị chuyển phát nhanh, không biết mặt người trực tiếp giao hàng do người này đeo khẩu trang, kiểm tra trực tiếp điện thoại của V có nhiều cuộc điện thoại nhưng V khai không xác định được cuộc điện thoại nào là do người giao hàng gọi, do vậy Cơ quan điều tiếp tục điều tra khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
- [8.6] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn V1 (bố đẻ của bị cáo V), cho bị cáo mượn xe xe máy nhãn hiệu HONDA, BKS: 23H1-8653, ông V1 không biết bị cáo dùng xe máy của mình đi bán trái phép chất ma túy. Do vậy không có cơ sở xem xét xử lý.
[9] Về xử lý vật chứng:
- [9.1] Quá trình điều tra xét thấy một số đồ vật không liên quan đến vụ án Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng đã trả lại các chủ sở hữu hợp pháp gồm: Ông Nguyễn Văn V1 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, BKS: 23H1-8653; Nguyễn Trung V 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 túi vải màu xanh - đen; Nông Văn D 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu Samsung, màu đen là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [9.2] Đối với 01 phong bì màu trắng, được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ: 10090/C09(TT2), gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H; vật chứng nhà nước cấm tàng trữ lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 dụng cụ xay cần sa bị cáo dùng vào việc xay ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- [9.3] Đối với 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu Google, màu đen của Nguyễn Trung V dùng để liên lạc mua bán ma túy đây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- [9.4] Đối với số tiền 1.100.000 đồng VNĐ từ việc phạm tội do bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- [9.5] Đối với 01 (một) điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu đen của Hoàng Đức S dùng để liên lạc mua ma túy với Nguyễn Trung V để sử dụng, trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT xác định Hoàng Đức S chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên xét thấy trả lại cho
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.
[10] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung V chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[12] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung V 25 (Hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 19/12/2024.
- Hình phạt bổ sung: Không.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ: 10090/C09(TT2), kính gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H”, mặt sau có hình dấu tròn đỏ của V3; 01 (một) dụng cụ xay cần sa, trên nắp có chữ nước ngoài HALL OF WEED có kích thước 3,5cm, đường kính 04cm (cũ, đã qua sử dụng).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Tiền Việt Nam: 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang (có kèm theo giấy nộp tiền); 01 (một) Điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu Google, màu đen (cũ, bẩn, đã qua sử dụng, bị trầy xước nhiều chỗ, không kiểm tra chất lượng bên trong, điện thoại trong tình trạng không hoạt động).
- Trả lại cho anh Hoàng Đức S; sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang 01 (một) điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu đen (cũ, bẩn, đã qua sử dụng, bị trầy xước nhiều chỗ, không kiểm tra chất lượng bên trong, điện thoại trong tình trạng không hoạt động).
- (Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Bị cáo Nguyễn Trung V chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng
(Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Hoàng Văn Thuận |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 BLHS
