|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KAN Bản án số: /2025/HS-ST Ngày 26/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân tham gia: Ông Vi Thanh Cầm và ông Nguyễn Văn Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Dương Xuân Hổ và ông Vũ Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 Tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST - HS, ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/HSST-QĐ, ngày 10/3/2025 đối với bị cáo:
NGUYỄN THỊ T
(Tên gọi khác: Không) - sinh ngày 08 tháng 10 năm 1969 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn K, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 10/10; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B (đã chết); con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1953; Chồng: Hoàng Văn T2, sinh năm 1967; Con: 04 (bốn) con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn, sau đó chuyển về Trại tạm giam Công an tỉnh B cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T: Bà Nguyễn Phương B1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hoàng Văn T2, sinh năm 1967, nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt tại phiên tòa.
- Hoàng Thị Y, sinh năm 1988, nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt tại phiên tòa.
* Người tham gia tố tụng khác (Có mặt tại điểm cầu thành phần):
- - Bà Nông Thanh H, chiến sĩ - Trại tạm giam của Công an tỉnh B.
- - Ông Nông Minh T3, cán bộ chiến sĩ - Trại tạm giam của Công an tỉnh B.
- - Ông Lê Hoàng K, cán bộ chiến sĩ - Trại tạm giam của Công an tỉnh B.
- - Đặng Quầy M, cán bộ chiến sĩ - Trại tạm giam của Công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 12/9/2024 Nguyễn Thị T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, màu sơn đen bạc, Biển kiểm soát số 97B1-555.92 đi từ nhà theo đường bê tông hướng thôn Bản Duồi, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn để đi xem ruộng của gia đình, trên đường đi thì gặp 01 người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ, người đàn ông đó nhờ T cầm 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu GOLD LION, được buộc bằng 02 dây cao su màu vàng, bên trong gói bằng túi nilon màu hồng có 10 gói Heroine dạng cục và bột, trong đó 02 gói bằng túi nilon màu đen và 08 gói bằng túi nilon màu hồng, đi vào thôn Bản Duồi, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn để giao cho một người phụ nữ không quen biết và sẽ được người phụ nữ đó trả cho số tiền công là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). T thường đồng ý cầm bao thuốc lá bên trong có chứa 10 gói Heroine trong bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng thôn Bản Duồi, xã Đ, huyện N. Khi đang đi trên đoạn đường bê tông thuộc Thôn K, xã B, huyện N thì tổ công tác Đội điều tra tổng hợp Công an huyện N phối hợp với Công an xã B kiểm tra, phát hiện và tạm giữ toàn bộ số ma túy trên. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, tạm giữ điện thoại, phương tiện để làm căn cứ xử lý theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 304/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
“- Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu Al gửi giám định là ma túy: loại Heroine (H1), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng là: 34,69g (ba bốn phẩy sáu chín gam)”.
Tại biên bản thực nghiệm điều tra ngày 15/10/2024 của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B tiến hành cho Nguyễn Thị T diễn lại hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy ngày 12/9/2024. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 02/CT-VKSBK-P1 ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Nguyễn Thị T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 của Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
b) Heroine, ... có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị T về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy"theo điểm b khoản 3 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án 15 đến 16 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giữ ngày 12/9/2024. Không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và miễm án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T phát biểu quan điểm: Người bào chữa đều nhất trí nội dung Cáo trạng và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo và đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Quá trình cư trú tại địa phương bị cáo được UBND xã B, huyện N tặng giấy khen trong quá trình làm Trưởng ban công tác mặt trận khu C vào các năm 2014, 2015; tạo điều kiện cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật và giảm nhẹ mức hình phạt. Đề nghị HĐXX xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 15 giờ ngày 12/9/2024 tại đường bê tông thuộc thôn K, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn Đội điều tra Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Công an xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang bị cáo Nguyễn Thị T đang vận chuyển trái phép 34,69 (ba bốn phẩy sáu chín gam) gam Heroine, mục đích để lấy tiền công 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Heroine...có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 của Bộ luật Hình sự. Do đó, việc truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh, điều khoản đã nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, với khối lượng ma túy vận chuyển là 34,69 (ba bốn phẩy sáu chín gam) gam Heroine. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu rõ ma túy là chất Nhà nước cấm, vận chuyển, song chỉ vì hám lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt nghiêm khắc mới thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật, cũng như đủ sức răn đe và phòng ngừa đối với loại tội phạm ma túy đang ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với bị cáo và đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thị T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và trong quá trình cư trú tại địa phương được UBND xã B, huyện N tặng giấy khen do bị cáo làm Trưởng ban công tác mặt trận khu C năm 2014, 2015 - đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; về nhân thân, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[3] Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là nông dân, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 34,44 (ba mươi tư phẩy bốn mươi bốn) gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án, sau khi đã giám định cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T193, đây là vật thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành - phải tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 chứa túi nilon cũ, dây nịt, vỏ bao thuốc lá và phong bì niêm phong T1 cũ, được niêm phong dán kín, đều không có giá trị sử dụng - cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y21, vỏ màu xanh, màn hình bị nứt vỡ, ốp lưng bằng nhựa màu nâu (có dòng chữ Ferrari), số IMEI1: 861428053019365; số IMEI2: 86142805301962, bên trong máy có lắp 02 sim có số thuê bao 0975028620 và 0326733160, điện thoại đã cũ qua sử dụng. Qua điều tra xác định bị cáo không dùng làm phương tiện liên lạc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, màu sơn đen bạc, Biển kiểm soát số 97B1-555.92, số khung RLHJF6308FZ364270, số máy JF63E1364303, kèm theo 01 chìa khóa xe tạm giữ của Nguyễn Thị T (xe đăng ký mang tên Hoàng Thị Y là con gái bị cáo, là chủ sở hữu). Theo lời khai bị cáo, khi sử dụng chiếc xe mô tô trên để vận chuyển ma túy thì chị Y không biết, nên trả lại cho chị Hoàng Thị Y.
[5] Trong vụ án còn có: Người đàn ông đã thuê bị cáo vận chuyển ma túy và người phụ nữ sẽ nhận ma túy và trả tiền công cho bị cáo. Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông và người phụ nữ này, cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xem xét xử lý.
[6] Xét về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí - nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
[8] Người bào chữa cho bị cáo đều nhất trí đối với nội dung truy tố và luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất. Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là trong khuôn khổ của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 15 (Mười lăm) năm tù. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị T 45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 34,44 (ba mươi tư phẩy bốn mươi bốn) gam Heroine sau khi đã giám định cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T193; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 chứa túi nilon cũ, dây nịt, vỏ bao thuốc lá và phong bì niêm phong T1 cũ.
- - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y21, vỏ màu xanh, màn hình bị nứt vỡ, ốp lưng bằng nhựa màu nâu (có dòng chữ Ferrari), số IMEI1: 861428053019365; số IMEI2: 86142805301962, bên trong máy có lắp 02 sim có số thuê bao 0975028620 và 0326733160.
- - Trả cho chị Hoàng Thị Y 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, màu sơn đen bạc, Biển kiểm soát số 97B1-555.92, số khung RLHJF6308FZ364270, số máy JF63E1364303, kèm theo 01 chìa khóa xe.
- (Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
[4] Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Miễn 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị T.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình Hưng |
Bản án số /2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KAN về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: /2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KAN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Th phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
