|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 26-3-2025 |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Trần Ngoan .
Ông Bùi Văn Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S, sinh ngày 22-12-2000 tại tỉnh Đồng Tháp; Cư trú: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn R, sinh năm 1974 (chết) và con bà: Không rõ họ tên và năm sinh (chết); Bị cáo là con một trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Ngày 07-01-2025; Hủy bỏ biện pháp tạm giữ: Ngày 10-01-2025; Tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấp đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Huỳnh Văn N, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. - Huỳnh Khánh L, sinh năm 2001 (có mặt).
Cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng: Huỳnh Khánh L, sinh năm 2001 (có mặt).
Cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người chứng kiến: Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ, ngày 07-01-2025 bị cáo Nguyễn Văn S mượn xe mô tô biển kiểm soát 66KA-024.85 của anh Huỳnh Khánh L (xe này anh Huỳnh Khánh L mượn của ông Huỳnh Văn N) chạy đi mua thức ăn thì gặp người tên C không rõ họ và địa chỉ cụ thể, nên bị cáo S nhờ người tên C liên hệ mua ma túy thì người tên C lấy điện thoại gọi cho một người thanh niên không biết tên, địa chỉ cụ thể và đưa điện thoại cho bị cáo S nói chuyện, bị cáo S và người thanh niên thỏa thuận là bị cáo S mua ma túy với số tiền 400.000 đồng và hẹn gặp nhau tại tuyến đường đal gần cầu S thuộc ấp B, xã T, huyện T để giao ma túy. Đến khoảng 15 phút sau, bị cáo S nhờ anh L chở vào huyện T để mang hình thờ ông nội tên Nguyễn Văn K đến ấp Đ, xã T, huyện T nên anh L đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi xe chạy đến cầu S thì bị cáo S kêu anh L chạy xe vào tuyến đường đal thuộc ấp B, xã T, huyện T khoảng 100m, bị cáo S kêu anh L dừng xe lại, sau đó bị cáo S xuống xe đi bộ đến gặp một người thanh niên không biết họ tên và địa chỉ cụ thể để lấy 01 bọc ma tuý, lúc này một người thanh niên để 01 bọc ma tuý cặp lề đường đal bên lề trái nên bị cáo S đi lại lấy 01 bọc ma tuý cầm trên tay và để lại số tiền 400.000 đồng, sau khi mua được ma túy thì bị cáo S kêu anh L chở về thị trấn S để mua nước uống, khi xe chạy đến gần nhà trọ Q thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang trên tay bị cáo S đang cầm 01 bọc ma túy .
Vật chứng của vụ án thu giữ:
- - 01 bọc nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng.
- - 01 xe gắn máy biển kiểm soát 66KA-024.85; nhãn hiệu: DETECH; màu: Đen xe đã qua sử dụng xe do bà Thái Thị K1 đứng tên.
Tại kết luận giám định số: 36/KL-KTHS ngày 09-01-2025 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bọc nylon màu trắng hàn kín là chất ma tuý có khối lượng 0,490 gam, loại Methamphetamin. Khối lượng còn lại sau giám định là 0,424 gam.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSTH ngày 06 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như nội dung Cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Từ những phân tích trên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với xe gắn máy biển kiểm soát 66KA-024.85; nhãn hiệu DETECH; màu: Đen xe đã qua sử dụng do bà Thái Thị K1 đứng tên, hiện bà K1 đã chết, chồng bà K1 là ông Huỳnh Văn N cho anh Huỳnh Khánh L mượn (anh L là cháu ruột ông N), việc anh L lấy xe chở bị cáo S đi mua ma túy thì ông N không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý trả lại xe cho ông Huỳnh Văn N là phù hợp theo quy định pháp luật.
Đối với anh Huỳnh Khánh L có điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 66KA-024.85; nhãn hiệu DETECH; màu: Đen chở bị cáo Nguyễn Văn S vào huyện T để mang hình thờ ông nội tên Nguyễn Văn K đến ấp Đ, xã T, huyện T việc bị cáo S mua ma túy thì anh L không biết, nên không xem xét xử lý anh L vai trò đồng phạm với bị cáo S, là phù hợp theo quy định pháp luật.
Đối với người tên C và người nam thanh niên lạ mặt bán ma tuý cho bị cáo Nguyễn Văn S nhưng không biết họ và tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 bọc nylon màu trắng, hàn kín bên trong có khối lượng 0,424 gam ma túy loại Methamphetamin còn lại sau giám định. Hiện các vật chứng nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý.
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đã biết lỗi và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, lời khai thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ được; kết luận giám định; lời khai của người tham gia tố tụng khác và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đây là vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Nguyễn Văn S thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị bắt quả tang vào ngày 07-01-2025.
[3] Căn cứ vào Kết luận giám định số: 36/KL-KTHS ngày 09-01-2025 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bọc nylon màu trắng hàn kín, là chất ma tuý có khối lượng 0,490 gam loại Methamphetamin. Khối lượng còn lại sau giám định là 0,424 gam là chất được quy định tại Danh mục I, số thứ tự 11, Mục IB Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ về quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, đây là chất cấm tàng trữ. Đồng thời qua tranh tụng tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi tội phạm của mình, như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều luật trên quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ... Methamphetamine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trên 18 tuổi đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguồn gốc phát sinh của nhiều tội phạm hình sự, nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Nhưng Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo trong việc lượng hình để răn đe, giáo dục bị cáo nhằm có tác dụng đấu tranh và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Từ những tình tiết phân tích nêu trên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo pháp luật hình sự nước ta.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy tại phiên tòa luận tội của Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo làm thuê, không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là phù hợp.
Đối với anh Huỳnh Khánh L có điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 66KA-024.85; nhãn hiệu DETECH; màu: Đen chở bị cáo Nguyễn Văn S vào huyện T để mang hình thờ ông nội tên Nguyễn Văn K đến ấp Đ, xã T, huyện T để thờ, việc bị cáo S mua ma túy thì anh L không biết, bị cáo S chỉ nhờ anh L chở bị cáo S vào ấp Đ, xã T để mang hình thờ ông nội và khi bị cáo S kêu anh L ghé lại đường đal thuộc ấp B, xã T B thì anh L cũng không biết là bị cáo S mua ma túy cho đến khi bị Công an bắt quả tang, nên không xem xét xử lý anh L vai trò đồng phạm với bị cáo S, là phù hợp theo quy định pháp luật.
Đối với người tên C và người nam thanh niên lạ mặt bán ma tuý cho bị cáo Nguyễn Văn S nhưng không biết họ và tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bọc nylon màu trắng, hàn kín bên trong có khối lượng 0,424 gam ma túy loại Methamphetamin, còn lại sau giám định. Hiện các vật chứng nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý.
Đối với xe gắn máy biển kiểm soát 66KA-024.85; nhãn hiệu DETECH; màu: Đen xe đã qua sử dụng do bà Thái Thị K1 đứng tên, hiện bà K1 đã chết, chồng bà K1 là ông Huỳnh Văn N cho anh Huỳnh Khánh L mượn, việc bị cáo S nhờ anh L chở mang hình thờ ông nội đến ấp Đ, xã T thì anh L không biết bị cáo S đi mua ma túy và ông N cũng không biết, anh L cũng thống nhất trả xe lại cho ông N, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý trả lại xe cho ông Huỳnh Văn N là phù hợp theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Xét thấy phát biểu luận tội và đề nghị xử lý vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù, nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07-01-2025 đến ngày 10-01-2025. - Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 bọc nylon màu trắng, hàn kín bên trong có khối lượng 0,424 gam ma túy loại Methamphetamin.
(Các vật chứng nêu trên hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06-3-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng). - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26-3-2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vũ Bình |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù, nhưng được trừ đi những ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07-01-2025 đến ngày 10-01-2025.
