TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 21/3/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Xuân Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Yến
Ông Đinh Xuân Nhuần
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Sơn – Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố số I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Anh R
, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện A, Thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Lê Văn V- đã chết. Con bà: Vũ Thị C- đã chết. Bị cáo có vợ là Trần Thị Thanh H, sinh năm 1982; có 02 con: con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/12/2024.
- Bị hại: Bà Lưu Thị L (đã chết) - Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Anh Trịnh Văn D, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, có mặt;
- + Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Trần Quang H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/10/2024, Lê Anh R có Giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-011.59 đi từ Khu D, phường V, quận Đ, Hải Phòng về nhà ở huyện A, thành phố Hải Phòng. Khi đi đến đường N (khu vực đoạn đường trước cảng cá số A) thuộc tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, do không chú ý quan sát, không làm chủ được tay lái, nên đã đâm va vào bà Lưu Thị L (sinh năm 1956, trú tại: tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, Hải Phòng) đang đi bộ sang đường. Hậu quả, bà L bị thương tích nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H2, Hải Phòng và tử vong hồi 22 giờ cùng ngày; Lê Anh R bị thương tích, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa quận K, Hải Phòng; xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-011.59 bị hư hỏng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: hiện trường là đường thẳng trước cảng cá số A, thuộc đường N, phường H, quận Đ, Hải Phòng, đường một chiều, mặt đường trải nhựa áp phan rộng 11,2 mét, bên phải đường có vỉa hè rộng 05 mét, bên trái có dải phân cách rộng 1,5 mét. Đường được chia làm 03 làn riêng biệt, có vạch sơn đứt quãng.
Vết cày xước mặt đường dài 3,9 mét chiều từ hướng Đông đến hướng Tây; xe mô tô Biển kiểm soát 15D1- 011.59 đổ nghiêng bên phải, đầu xe quay về hướng Bắc; vết máu có kích thước (0,5 x 0,2) mét nằm trên mặt đường N theo chiều quận Đ đi trung tâm thành phố Hải Phòng. Lấy cột điện nằm trên dải phân cách đối diện nhà số C đường N làm cột mốc. Lấy mép vỉa hè bên phải đường N theo chiều quận Đ đi trung tâm thành phố Hải Phòng làm điểm chuẩn.
Vị trí điểm đầu dấu vết cày xước mặt đường có hình dạng đường thẳng, cách cột mốc 11,4 mét về phía tây nam, cách điểm chuẩn 5,13 mét, vị trí điểm kết thúc cách điểm chuẩn 4,8 mét. Xe mô tô Biển kiểm soát 15D1- 011.59: vị trí trục bánh trước cách điểm chuẩn 3,95 mét, cách cột mốc 8,98 mét, cách tâm vết máu 1,42 mét; vị trí trục bánh sau cách điểm chuẩn 4,9 mét, cách cột mốc 8,3 mét, cách điểm cuối vết xước 0,4 mét. Vết máu: tâm vết máu cách điểm chuẩn 2,65 mét, cách cột mốc 10 mét, cách tâm trục bánh trước xe mô tô Biển kiểm soát 15D1- 011.59 là 1,42 mét, cách điểm cuối vết xước 2,4 mét, cách điểm đầu vết xước 5,48 mét.
Tại biên bản khám nghiệm tử thi đối với nạn nhân Lưu Thị L: trên cơ thể có nhiều vết thương, trong đó có vết sưng nề bầm tím vùng chẩm, kích thước (05 x 05) cm.
+ Bản Kết luận giám định tử thi số 291 ngày 29/10/2024 của Trung tâm P kết luận: “Nạn nhân Lưu Thị L, sinh năm 1956 chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do đa chấn thương, chấn thương sọ não nặng”.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX Biển kiểm soát 15D1-011.59:
Gương chiếu hậu bên trái: phần nhựa ốp gương bị trầy xước theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, kích thước (0,1 x 0,02) mét.
Phần nhựa nắp trước tay lái phía bên trái bị dập vỡ, trầy xước theo chiều từ trước ra sau, kích thước (0,04 x 0,02) mét. Cụm đèn tín hiệu phía trước bên trái bị trầy xước theo chiều từ trước ra sau, từ phải qua trái, kích thước (0,05 x 0,01) mét. Cụm đèn pha bị trầy xước theo chiều từ phải qua trái, từ trước ra sau, kích thước (0,04 x 0,03) mét. Phần ngoài cùng tay lái bên trái bị trầy xước theo chiều từ trước ra sau, kích thước (0,01 x 0,01) mét. Mặt nạ trước phía bên phải bị nứt gãy, kích thước (0,09 x 0,03) mét, tạo khe hở 0,09 mét; điểm thấp nhất cách mặt đất 0,77 mét (bút lục số 29, 30).
Kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở và xét nghiệm chất ma túy trong nước tiều, kết quả: nồng độ cồn là 0,000 mg/l; âm tính với các chất ma túy trong nước tiều.
Lời khai của bị can Lê Anh R, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, Kết luận giám định tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi nêu trên của Lê Anh R đã vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 “...Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ...đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ...qua đường bảo đảm an toàn”.
Vật chứng thu giữ: một xe mô tô Biển kiểm soát 15D1- 011.59, đã trả lại cho anh Trần Quang H1 (sinh năm 1985, trú tại: thôn X, xã T, huyện A, Hải Phòng) là chủ sở hữu chiếc xe trên. Anh H1 không yêu cầu R phải bồi thường.
Về dân sự: ngày 12/11/2024, Lê Anh R đã bồi thường cho gia đình của người bị hại số tiền là 63.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Gia đình người bị hại không yêu cầu phải bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Anh R.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSĐS ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 65 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Anh R từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng kể từ ngày tuyên án.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: ngày 12/11/2024, Lê Anh R đã bồi thường cho gia đình của người bị hại số tiền là 63.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Gia đình người bị hại không yêu cầu phải bồi thường thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 15D1- 011.59, đã trả lại cho anh Trần Quang H1 (sinh năm 1985, trú tại: thôn X, xã T, huyện A, Hải Phòng) là chủ sở hữu chiếc xe trên. Anh H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Về án phí : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận, bị cáo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Đối với những người tham gia tố tụng khác: Anh Trịnh Văn D, có mặt; anh Trần Quang H1, có mặt; chị Trịnh Thị T đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên chị T đã có lời khai đầy đủ trong hồ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh và khung hình phạt:
- Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Kết luận giám định tử thi, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/10/2024, tại đường N (khu vực đoạn đường trước cảng cá số A) thuộc tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Lê Anh R một mình điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 15D1-011.59 theo hướng Khu D về A, Hải Phòng do không quan sát, không làm chủ được tay lái nên đã va chạm với bà Lưu Thị L đang đi bộ sang đường. Hậu quả, bà L bị tử vong. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và xâm hại trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn giao thông. Do vậy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị hại cũng có lỗi một phần khi tham gia giao thông không đúng quy định. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không hành nghề vận tải nên Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- Mặt khác xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên chỉ cần cho bị cáo được cải tạo ngài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 15D1- 011.59, đã trả lại cho anh Trần Quang H1 (sinh năm 1985, trú tại: thôn X, xã T, huyện A, Hải Phòng) là chủ sở hữu chiếc xe trên. Anh H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.
- Về vấn đề khác: Việc anh H1 là người cho bị cáo mượn phương tiện là xe mô tô, bị cáo có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ nên không xử lý hình sự đối với anh H1.
- Về án phí quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Anh R phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Anh R: 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Anh R cho UBND xã Q, huyện A, Thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Anh R có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Lê Anh R.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 04/2025/HSST-QĐCĐKNCT ngày 28- 02- 2025 của Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Lê Anh R.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không vượt quá phần một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sĩ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã. Trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
Trong thời gian thử thách người hưởng người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Anh R phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại (anh Trịnh Văn D) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với chị Trịnh Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Vinh |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Anh R phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
