Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM XUYÊN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình Chương

Ông Bùi Quang Huân

Thư ký phiên toà: Ông Lê Hồng Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Cẩm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên kết nối với điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến - Trại Tạm giam Công an tỉnh H, Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/HS-ST ngày 28/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 05/3/2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn N, sinh ngày 20/01/1999; Tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị N1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án sơ thẩm số 05/2021/HSST, ngày 28/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt Phạm Văn N 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/12/2021; chấp hành xong thi hành án dân sự ngày 19/3/2021; đương nhiên xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024, đến ngày 27/12/2024 bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H cho đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị N1, sinh ngày 07/12/1962; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt tại điểm cầu trung tâm.
  • + Anh Trần T1, sinh ngày 21/09/1994; Nghề nghiệp: Quản lý khách sạn; Địa chỉ: Xóm N, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

- Người chứng kiến:

  • + Anh Lâm Phúc V, sinh ngày 20/07/1964; Đ chỉ: Xóm N, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
  • + Chị Vi Thị V1; sinh ngày 24/02/1987; Địa chỉ: Khách sạn H1, thôn L, xã T, huyện T (nay là thành phố H), có mặt tại điểm cầu Trung tâm.

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Ông Lê Hồ Việt A – Tổ trưởng tổ dẫn giải – Trại tạm giam Công an H
  • + Ông Lê Bá Mạnh H – Cán bộ trại Tạm giam Công an H
  • + Ông Lê Bùi Nam A1 - Cán bộ trại Tạm giam Công an H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn N là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Chiều ngày 22/12/2024, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển kiểm soát 38X1-462.59, mang theo 01 chiếc “cóng” thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy) đến khách sạn H1, thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh thuê phòng 401 và nghỉ lại đây qua đêm. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23/12/2024, Phạm Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38X1-462.59 đi từ khách sạn H1 ra thành phố H để tìm mua ma tuý đá về sử dụng. Khi ra đến khu vực hồ B thuộc phường Đ, thành phố H, Nam sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38 của mình có gắn sim số 0379.246.381 gọi điện thoại vào số 0766.462.xxx gặp một người đàn ông tên T (không xác định được nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 2.000.000 đồng tiền ma tuý đá, thì T đồng ý. Một lúc sau, người đàn ông tên T đi đến, N đưa cho T 2.000.000 đồng tiền mặt rồi T chỉ cho N 01 gói ni lông trong suốt hình chữ nhật chứa ma tuý ở mặt nền bê tông gần đó. N đi lại nhặt lấy gói ma túy bỏ vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi điều khiển xe quay về phòng 401- khách sạn H1. Tại đây, Nam chia số ma tuý vừa mua ra thành 02 phần, 01 phần để lại trong gói ni lông cũ vừa mua, 01 phần bỏ vào 01 gói ni lông khác cất giấu tại chiếc ghế đặt trong phòng 401. Sau đó, N cầm theo chiếc “cóng” thuỷ tinh và gói ma tuý còn lại, bỏ vào túi áo khoác bên phải đang mặc trên người và điều khiển xe biển kiểm soát 38X1-462.59 đi về nhà tại thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Nam chưa trả phòng). Đến 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi Phạm Văn N đi đến đoạn đường liên thôn, thuộc địa phận thôn Đ, xã C, huyện C thì bị lực lượng Công an huyện C kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác bên phải mà N đang mặc 01 (Một) túi ni lông trong suốt hình chữ nhật kích thước (4x7)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma tuý cùng một 01 (Một) ống thuỷ tinh trong suốt hình chữ “V” dài 17cm, đường kính 0,3cm, cuối ống thuỷ tinh có gắn phễu hình cầu đường kính 1,7cm.

Cơ quan Công an đã lập biên bản, đưa N về trụ sở để làm việc, N khai nhận chất tinh thể màu trắng đang tàng trữ là ma túy đá, nhằm mục đích sử dụng.

Qua lời khai của N, vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp Phòng 401, khách sạn H1, thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, phát hiện, thu giữ 01 (Một) gói ni lông trong suốt hình chữ nhật, kích thước (4x3,7) cm, bên trong chứa các chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma tuý tại mép ngăn cách giữa lưng ghế và mặt ghế của chiếc ghế làm bằng gỗ và đệm nỉ đặt ở trong góc phòng 401.

Tại bản Kết luận giám định số 92/KL-KTHS ngày 27/12/2024, của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 (Một) gói ni lông trong suốt hình chữ nhật, có kích thước là (4 x7) cm (ký hiệu M) gửi giám định là ma túy, là M, có khối lượng: 1,33 gam. Các hạt tinh thể màu trắng chứa trong 01 (Một) gói ni lông trong suốt hình chữ nhật, có kích thước là (4 x 3,7) cm (ký hiệu N) là Methamphetamine, có khối lượng: 0,82 gam.

Tổng khối lượng Methamphetamine mà Phạm Văn N đã tàng trữ trái phép nhằm mục đích sử dụng là 2,15 gam.

Quá trình điều tra xác định, chiếc xe có nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ nâu đen, số máy JK03E6069403, số khung RLHJK031XMZ357139, có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 38006685, do Công an huyện C cấp ngày 25/01/2022 mang tên Phạm Thị M1 (chị gái của N) địa chỉ thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện nay, chị M1 đi lao động làm ăn tại Thái Lan và giao cho bà Nguyễn Thị Nghĩa L mẹ đẻ của Phạm Văn N quản lý.

Đối với số điện thoại 0766.462.xxx, ngày 14/01/2025, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành Công văn số 24/CV-ĐHSKTMT gửi Trung tâm K1- Công ty D- chi nhánh Tổng công ty V2 đề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao, nhưng chưa nhận được trả lời.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Trung tâm C thuộc Sở lao động - thương binh và xã hội tỉnh H, ngày 24/12/2024 xác định: Phạm Văn N dương tính với chất ma túy Methamphetamine (MET).

Liên quan vụ án có:

  • - Người đàn ông tên T đã bán ma túy cho Phạm Văn N, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không thể xác định được người bán ma túy cho N là ai nên không có căn cứ xử lý theo quy định, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.
  • - Đối với anh Trần Văn T1, chủ khách sạn kiêm lễ tân chịu trách nhiệm quản lý, điều hành hoạt động Khách sạn H1. Khi N mua ma túy về cất dấu trong phòng 401 mà Nam thuê của khách sạn, anh T1 không biết, không giúp sức hay che dấu. Để xảy ra hoạt động tàng trữa trái phép chất ma túy tại khách sạn có trách nhiệm của Chủ sở hữu và người quản lý khách sạn. Hành vi này có dấu hiệu vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của chính phủ. Hành vi xảy ra trên địa bàn huyện T, tỉnh Hà Tĩnh nên cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, tài liệu cho UBND huyện T xem xét, xử lý đối với anh Trần Văn T1.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • - 01 (Một) gói ni lông trong suốt, bên trong chứa chất ma túy l à Methamphetamine, có khối lượng: 1,33 gam, sau khi trừ mẫu giám định 0,10 gam (Không phẩy một không gam), còn lại 1,23 gam (Một phẩy hai ba gam) cùng vỏ bao ni lông trong suốt hình chữ nhật, kích thước (4x7)cm; 01 (Một) gói ni lông trong suốt, bên trong chứa chất ma túy là Methamphetamine, có khối lượng: 0,82 gam sau khi trừ mẫu giám định 0,10 gam (Không phẩy một không gam), còn lại 0,72 gam (Không phẩy bảy hai gam), cùng vỏ bao ni lông trong suốt hình chữ nhật, kích thước (4x3,7) cm. Số lượng ma túy còn lại sau khi trừ mẫu giám định va các vỏ bao được bỏ vào trong 01 (Một) phong bì thư màu trắng có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH- PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, bên ngoài phong bì có chữ ký niêm phong của các thành phần tham gia giám định.
  • - 01 (Một) ống thuỷ tinh trong suốt hình chữ “V” dài 17cm, đường kính 0,3cm, cuối ống thuỷ tinh có gắn phễu hình cầu đường kính 1,7 cm bên trong phễu không có gì.
  • - 01 (Một) xe mô tô Honda Vision, màu đỏ- nâu- đen, số máy JK03E6069403, số khung RLHJK031XMZ357139, gắn biển kiểm soát 38X1-462.59, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • - 01 (Một) điện thoại OPPO A38, kiểu máy CPH2579, bộ nhớ 128Gb, màu đồng, số IMEI1: 868714064068338, số IMEI2: 868714064068320, bên trong gắn số sim 0379.246.381, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Các vật chứng nói trên đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS-CX ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Phạm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, tiết đầu điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2024; Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) ống thuỷ tinh trong suốt hình chữ “V” dài 17cm, đường kính 0,3cm, cuối ống thuỷ tinh có gắn phễu hình cầu đường kính 1,7 cm; 01 (Một) gói ni lông trong suốt, bên trong chứa chất ma túy là Methamphetamine, có khối lượng: 1,33 gam, sau khi trừ mẫu giám định 0,10 gam, còn lại 1,23 gam cùng vỏ bao ni lông trong suốt hình chữ nhật, kích thước (4x7)cm; 01 (Một) gói ni lông trong suốt, bên trong chứa chất ma túy là Methamphetamine, có khối lượng: 0,82 gam sau khi trừ mẫu giám định 0,10 gam, còn lại 0,72 gam, cùng vỏ bao ni lông trong suốt hình chữ nhật, kích thước (4x3,7) cm; một sim số 0379246381. Tịch thu su ng quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại OPPO A38, kiểu máy CPH2579, bộ nhớ 128Gb, màu đồng, số IMEI1: 868714064068338, số IMEI2: 868714064068320 đã qua sử dụng. Trả lại cho bà Nguyễn Thị N1 01 (Một) xe mô tô Honda Vision, màu đỏ- nâu- đen, số máy JK03E6069403, số khung RLHJK031XMZ357139, gắn biển kiểm soát 38X1- 462.59, đã qua sử dụng. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 12 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, Phạm Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 1,33 gam Methamphetamine được đựng trong túi áo khoác bên phải mà Phạm Văn N đang mặc và 0,82 gam Methamphetamine Nam cất dấu tại phòng 401 khách sạn H1 thuộc địa phận thôn L, xã T, Huyện T, để nhằm mục đích sử dụng. Tổng khối lượng Methamphetamine Phạm Văn N tàng trữ trái phép là 2,15 gam.

[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo là người nghiện ma túy, vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy cho bản thân, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,15g ma túy loại Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 08/CT-VKS-CX ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo về tộ danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Không; Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại tiết đầu điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét thấy, bị cáo đã từng bị Tòa án kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đã chấp hành xong bản án, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội, do đó cần có hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo nhận thức được lỗi lầm đồng thời có tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Liên quan vụ án có: Đối với người đàn ông tên T đã bán ma túy cho Phạm Văn N, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng do thông tin Bị cáo cung cấp không đủ để xác định được người bán ma túy cho N là ai, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là có căn cứ; Đối với anh Trần Văn T1, chủ khách sạn kiêm lễ tân chịu trách nhiệm quản lý, điều hành hoạt động Khách sạn H1. Khi N mua ma túy về cất dấu trong phòng 401 mà Nam thuê của khách sạn, anh T1 không biết, không giúp sức hay che dấu. Để xảy ra hoạt động tàng trữa trái phép chất ma túy tại khách sạn có trách nhiệm của Chủ sở hữu và người quản lý khách sạn. Hành vi này có dấu hiệu vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của chính phủ. Hành vi xảy ra trên địa bàn huyện T, tỉnh Hà Tĩnh nên cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, tài liệu cho UBND huyện T xem xét, xử lý đối với anh Trần Văn T1 là có căn cứ.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (Một) gói ni lông trong suốt, bên trong chứa chất ma túy là Methamphetamine, có khối lượng: 1,33 gam, sau khi trừ mẫu giám định 0,10 gam, còn lại 1,23 gam cùng vỏ bao ni lông trong suốt hình chữ nhật, kích thước (4x7)cm; 01 (Một) gói ni lông trong suốt, bên trong chứa chất ma túy là Methamphetamine, có khối lượng: 0,82 gam sau khi trừ mẫu giám định 0,10 gam, còn lại 0,72 gam, cùng vỏ bao ni lông trong suốt hình chữ nhật, kích thước (4x3,7) cm; 01 (Một) ống thuỷ tinh trong suốt hình chữ “V” dài 17cm, đường kính 0,3cm, cuối ống thuỷ tinh có gắn phễu hình cầu đường kính 1,7 cm; 01 sim điện thoại số sim 0379.246.xxx, là những vật chứng bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị nên căn cứ quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (Một) điện thoại OPPO A38, kiểu máy CPH2579, bộ nhớ 128Gb, màu đồng, số IMEI1: 868714064068338, số IMEI2: 868714064068320 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Phạm Văn N, bị cáo dùng vào việc phạm tội, căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 01 (Một) xe mô tô Honda Vision, màu đỏ- nâu- đen, số máy JK03E6069403, số khung RLHJK031XMZ357139, gắn biển kiểm soát 38X1-462.59, đã qua sử dụng, có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 38006685, do Công an huyện C cấp ngày 25/01/2022 mang tên Phạm Thị M1 (chị gái bị cáo N). Tại thời điểm bị cáo sử dụng xe để đi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy thì chiếc xe thuộc quyền quản lý hợp pháp của bà Nguyễn Thị N1 (mẹ chị M1). Bà N1, chị M1 không biết việc bị cáo sử dụng xe để phạm tội. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bà Nguyễn Thị Nghĩa L người quản lý hợp pháp.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, tiết đầu điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 26 ( hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch Thu tiêu hủy: 01 (Một) ống thuỷ tinh trong suốt hình chữ “V” dài 17cm, đường kính 0,3cm, cuối ống thuỷ tinh có gắn phễu hình cầu đường kính 1,7 cm; 01 sim điện thoại số sim 0379.246.xxx; 01 (Một) phong bì thư màu trắng có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH- PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, bên trong phong bì có 01 (Một) gói ni lông trong suốt chứa chất ma túy là Methamphetamine, có khối lượng 1,23 gam; 01 (Một) gói ni lông trong suốt, bên trong lại 0,72 gam ma túy là M (sau khi trừ mẫu giám định);
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại OPPO A38, kiểu máy CPH2579, bộ nhớ 128Gb, màu đồng, số IMEI1: 868714064068338, số IMEI2: 868714064068320 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Phạm Văn N.
  • - Trả lại cho bà Nguyễn Thị N1 01 (Một) xe mô tô Honda Vision, màu sơn đỏ- nâu- đen, số máy JK03E6069403, số khung RLHJK031XMZ357139, gắn biển kiểm soát 38X1- 462.59, đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng có tại biên bản giao nhận ngày 27/02/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phạm Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Cẩm Xuyên;
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Xuyên;
  • - Công an huyện Cẩm Xuyên;
  • - THA.HS Công an huyện Cẩm Xuyên:
  • - Sở tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo, người có QLNVLQ;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thắm

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger