|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 26-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Mỹ Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
+ ông Tô Đình Trị
+ bà Nguyễn Thị Xuân
- Thư ký phiên tòa: ông Hồ Quốc Việt, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thăng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Ngọc Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Việt H; giới tính: nam; sinh năm 1979 tại P, tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: tổ B, thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); vợ: Trương Thị Khánh L, sinh năm 1984; và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: ông Nguyễn Văn C; sinh năm 1944 (đã chết); nơi cư trú: KP1, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1945; nơi cư trú: KP1, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam (vợ bị hại).
- bà Nguyễn Thị Diệu T1, sinh năm 1977; nơi cư trú: phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (con bị hại).
- ông Nguyễn Ân Q, sinh năm 1978; nơi cư trú: KP3, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam (con bị hại).
- ông Nguyễn Trung V, sinh năm 1982; nơi cư trú: KP1, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam (con bị hại).
Bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị Diệu T1, ông Nguyễn Ân Q uỷ quyền cho ông Nguyễn Trung V đại diện (văn bản uỷ quyền ngày 10/10/2024). (Có mặt)
Người làm chứng: bà Trương Thị Khánh L, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ B, thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ ngày 16/9/2024, Nguyễn Việt H có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe ô tô BKS 92C-080.93 (xe này của H) chở bà Trương Thị Khánh L (vợ H) xuất phát từ huyện P đến thành phố H, tỉnh Quảng Nam bán hàng. H điều khiển xe theo Quốc lộ A đến xã B, huyện T thì rẻ phải vào đường ĐT613 lưu thông theo hướng B - B và đi ở chiều đường bên phải để tiếp tục hành trình. Đến khoảng 04 giờ 55 phút cùng ngày, H điều khiển đến đoạn đường Km02+900 ĐT613 (đoạn đường này được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 6m44; ở giữa mặt đường có vạch kẻ nét đứt màu vàng chia thành hai chiều đường xe chạy, chiều Bình Phục - B rộng 3m20, chiều B - B rộng 3m24) thuộc thôn N, xã B, huyện T thì tông vào phía sau xe đạp do ông Nguyễn Văn C điều khiển đi cùng chiều phía trước với xe do H điều khiển. Hậu quả: Ông C chết tại hiện trường, xe ô tô BKS 92C-080.93 và xe đạp bị hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định số: 486/KLTTHS-KTHS(PY) ngày 18/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: ông Nguyễn Văn C chết là do nguyên nhân đa chấn thương (chấn thương sọ não, gãy cột sống cổ, gãy xương cẳng chân hai bên).
Tại bản kết luận định định giá tài sản số 71 ngày 23/9/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: Xe ô tô BKS 92C-080.93 bị thiệt hại 7.223.000 đồng (Bảy triệu hai trăm hai mươi ba nghìn đồng), xe đạp bị thiệt hại 649.000đ (Sáu trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Việt H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Việt H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015. Đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
*Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại ông Nguyễn Văn C số tiền 180.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Trung V đã có đơn bãi nại về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
* Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Việt H khai nhận: vào khoảng 04 giờ 55 phút sáng ngày 16/9/2024, tại Km02 + 900 ĐT613 thuộc thôn N, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam, do không chú ý quan sát nên xe ô tô BKS: 92C-080.93 do Nguyễn Việt H điều khiển đã tông vào xe đạp do ông Nguyễn Văn C đang lưu thông cùng chiều phía trước gây ra vụ tai nạn giao thông làm ông C chết tại hiện trường.
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xe, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: nguyên nhân xảy ra tai nạn được xác định do lỗi của bị cáo không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe đạp do bị hại điều khiển đi trước; hậu quả làm cho bị hại chết; xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Việt H có đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, như Cáo trạng truy tố số 06/CT-VKSTB-HS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Mọi công dân khi tham gia giao thông đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật giao thông đường bộ để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của mình và của người khác. Bị cáo Nguyễn Việt H có bằng lái xe hợp lệ, bị cáo hoàn toàn nhận thức được về sự nguy hiểm khi điều khiển ôtô tham gia giao thông. Tuy nhiên, khi điều khiển xe ô tô BKS 92C-080.93 do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn đã gây tai nạn. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm răn đe và tạo tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo. Ngoài ra, bị cáo còn có ông ngoại là liệt sĩ Nguyễn K. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng là lao động chính trong gia đình; nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, tạo điều kiện cho bị cáo được sửa chữa lỗi lầm trở thành công dân tốt cho xã hội.
[5] Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Những vấn đề liên quan cần giải quyết trong vụ án:
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại ông Nguyễn Văn C số tiền 180.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Trung V đã có đơn bãi nại về phần dân sự và tại phiên tòa không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện T tạm giữ: Xe ô tô BKS 92C-080.93, 01 xe đạp, 01 giấy đăng ký xe ô tô BKS: 92C-080.93, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS: 92C-080.93 (có hiệu lực đến hết ngày 22/11/2024), 01 bảo hiểm xe ô tô và 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Việt H. Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại xe ô tô BKS 92C-080.93, 01 xe đạp, 01 giấy đăng ký xe ô tô BKS: 92C-080.93, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS: 92C-080.93 (có hiệu lực đến hết ngày 22/11/2024), 01 bảo hiểm của xe ô tô BKS: 92C-080.93 cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hiện còn đang tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Nguyễn Việt H, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Nguyễn Việt H cho bị cáo.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Nguyễn Việt H.
- Về án phí: bị cáo Nguyễn Việt H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. (ngày 26/02/2025).
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Việt H 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 ( Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Việt H về Ủy ban nhân dân xã T, huyện P nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự .
(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thăng Bình, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2025).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Mỹ Trinh |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Việt H - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
