Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST.

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thành
  • Thẩm phán: Ông Huỳnh Nguyên
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Rơ Châm Lê;
    • Ông Lê Văn Sơn;
    • Ông Phạm Minh Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Trần Quỳnh Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Phức – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

A N (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/08/1992 tại tỉnh Kon Tum. Nơi cư trú: Hẻm đường N, thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Ba na; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân số: [...], nơi cấp: cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Con ông A N1, sinh năm 1964 và bà Y R, sinh năm 1967; Vợ: Mỹ D, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2018; Gia đình bị cáo có 08 anh em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 28/2013/HS-ST ngày 04/03/2013 của Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (Đã chấp hành xong); Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2024 đến nay (Có mặt).

A K (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/12/1999 tại tỉnh Kon Tum. Nơi cư trú: Đường L, thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Ba na; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 19/04/2021, nơi cấp: cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Con ông A K1, sinh năm 1970 và bà Y R1, sinh năm 1972; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 88/2014/HS-ST ngày 08/9/2014 của Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 18 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (Đã chấp hành xong); Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/11/2024 cho đến nay (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo A N: Ông Đinh Văn H – Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K. Địa chỉ: Số E đường N, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo A K: Ông Hoàng Minh T – Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K. Địa chỉ: Số A đường P, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

- Bị hại: Anh A N2 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại (cha, mẹ của anh A N2).

  • + Ông A N1, sinh năm 1964.
  • + Bà Y R, sinh năm 1967.

Cùng trú tại: Hẻm đường N, thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Mỹ D, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
  • + Ông A K1, sinh năm 1970 và bà Y R1, sinh năm 1972. Cùng trú tại: Đường L, thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Có mặt)

- Người làm chứng:

  • + Anh A H1, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
  • + Anh A T1, sinh năm 1993;
  • + Anh A N3, sinh năm 2000;
  • + Anh A Bi W, sinh năm 1992;

Cùng địa chỉ: thôn P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/03/2024, A N2 đi nhậu về thì qua nhà A N1 tại thôn P, phường L, cãi nhau với bố là A N1. Thấy A N2 say rượu nên ông A N1 bỏ đi thì A N2 về nhà cầm 01 con dao rựa chửi bới và đòi tiền mẹ ruột là bà Y R. Thấy vậy, A K đã gọi A N đang ngủ do uống rượu say trước đó dậy nói: “A N2 đang đập phá nhà kìa, anh dậy đập nó đi”. Sau đó, A N dậy đi ra ngoài sân nhìn thấy A N2 đang to tiếng với mẹ và cầm rựa đập phá cửa sổ nhà của bố mẹ. Thấy A N2 cầm rựa nên A N chỉ tay vào kho bếp nhà mình nói với A K: “vào lấy dao cho anh chứ nó cầm rựa”. A K vào nhà kho bếp lấy 01 con dao dài 41,7cm, mũi nhọn phần rộng được đựng trong vỏ bọc bằng gỗ mang ra đưa cho A N. A N rút vỏ bọc, cầm dao tiến đến gần A N2 và chỉ đạo về hướng A N2 nói: “mày không giúp được bố mẹ mà còn đập phá nữa”. A N2 nói lại: “muốn chơi không”. Sau đó, A N cầm rựa đi về hướng sân bê tông qua cây nhãn, vừa đi mặt vừa quay lại nhìn A N vừa chửi mẹ của mình. A N cầm dao đi theo tới gần thì A N2 cầm rựa khua chém về phía trên đầu A N. Khi A N2 cầm rựa khua chém ngược trở lại qua đầu thì A N chỉ người né tránh được. A N2 quay nghiêng người hướng vào cửa nhà bếp, A N cầm vỏ dao bằng tay trái, còn tay phải cầm dao cúi người lao đến đâm thẳng mũi dao trúng vào vùng hông bên trái của A N2. Sau đó, A N2 cầm rựa vung lại thì A N rút dao ra né tránh được nên không bị thương tích gì. Lúc này, A B Wăn là hàng xóm đi từ cổng vào nhìn thấy nên chạy đến ôm A N từ phía sau để can ngăn. A N2 tay phải cầm rựa, tay trái ôm giữ chỗ bị đâm và nói với A N “anh chơi nặng thật à” rồi cầm rựa chạy ra hướng đường N. Khi A N2 bỏ chạy ra gần cổng nhà thì nhìn thấy A K đang đứng bên sân nhà A N nên nói với A K: “sao không giúp” thì A K trả lời lại: “hai bên cầm dao sao dám giúp”. Sau đó A N2 tiếp tục bỏ chạy ra hướng đường N. Sau khi A N2 đã chạy ra đường, A B Wăn thả A N ra thì A N cầm dao chạy đuổi theo A N2 đến đầu đường N nhưng không thấy A N2, không biết A N2 chạy hướng nào nên quay về. Đến nhà, A N cầm dao đi vào nhà kho cất rồi ngồi uống bia cùng với A Bi W, A K. Một lúc sau có A N3 ở cùng thôn đến ngồi uống bia cùng. Nhậu được một lúc thì tất cả đi về, còn A N đi ngủ. Sáng hôm sau A N ngủ dậy cầm con dao trên đi làm rẫy thì nhìn thấy trên lưỡi dao có dính máu. Trên đường đi làm rẫy A N gặp A B Wăn ở ngoài đường có đứng nói chuyện và kể với A Bi W: “hôm qua đâm trúng A N2, thấy dao có máu, giờ không biết A N2 đi đâu, bị thương thế nào”. Sau đó, A N đi làm rẫy như bình thường. Khoảng 07 giờ ngày 25/03/2024, A T1 trú đường L, thôn P, Phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum phát hiện A N2 tử vong ở vườn bên cạnh nhà nên trình báo Cơ quan Công an. A N đang đi làm thì nghe tin A N2 chết nên đã đến Công an Phường L đầu thú.

Tại Kết luận giám định tử thi số: 33/KLGĐPY-TTPY ngày 28/03/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: Nguyên nhân chết của A N2 là do mất máu cấp/vết thương thấu bụng thủng thận bên trái. Vật gây thương tích là: vật sắc nhọn.

Cáo trạng số 02/CT-VKSKT-P2 ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố các bị cáo A N, A K về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo A N, A K phạm tội “Giết người”, xử phạt bị cáo A N từ 15 đến 16 năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo; xử phạt bị cáo A K từ 13 đến 14 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để chấp hành án.

Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo A N: Việc A N2 đập phá nhà cửa đã xảy ra nhiều lần, thời điểm phạm tội bị hại còn có thái độ thách thức nên áp dụng thêm tình tiết người bị hại có lỗi, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo A K: Vai trò của bị cáo A K trong vụ án chỉ dừng lại ở vai trò giúp sức, không mang tính quyết định. Bị hại A N2 cũng có một phần lỗi do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Các bị cáo đồng ý với ý kiến của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 19h30 ngày 23/03/2024, sau khi đi uống rượu về A N2 đến nhà anh trai là A N trú tại Thôn P I cãi nhau với bố là A N1. Ông A N1 đã bỏ đi thì A N2 về nhà lấy một con dao rựa chửi bới, đòi tiền mẹ ruột là Y R. Thấy vậy, A K (là anh họ của A N2) đã gọi A N đang ngủ do uống rượu say trước đó dậy nói “A N2 đang đập phá nhà kìa, anh dậy đập nó đi”. Khi A N dậy đi ra ngoài sân nhìn thấy A N2 đang to tiếng với mẹ và cầm rựa đập phá cửa sổ nhà của bố mẹ nên A N chỉ tay vào kho bếp nhà mình nói với A K “vào lấy dao cho anh chứ nó cầm rựa”. A K vào nhà kho bếp lấy 01 con dao đưa cho A N. A N cầm dao đi ra nói chuyện với A N2 nhưng bị A N2 thách thức nên cả hai đã lao vào dùng dao đâm chém nhau. Hậu quả, A N2 bị A N dùng dao đâm trúng vào hông bên trái, thấu bụng thủng thận bên trái dẫn đến mất máu cấp gây nên tử vong sau đó.

Xét thấy, do bức xúc về việc A N2 đập phá nhà của cha mẹ nên A N và A N2 đã xảy ra xô sát, A N đã dùng dao là hung khí nguy hiểm do bị cáo A K đưa, đâm vào hông bên trái của A N2 dẫn đến tử vong, hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ hung hãn, coi thường pháp luật. Hành vi đó đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS.

Đối với bị cáo A K khi thấy A N2 chửi bới, đập phá nhà ông A N1 đã không can ngăn mà còn gọi bị cáo A N dậy, xúi giục A N đánh A N2. Khi bị cáo A N nói lấy dao thì bị cáo A K tiếp tục giúp sức, lấy dao đưa cho bị cáo A N để ra đánh nhau với A N2; hậu quả bị cáo A N đã dùng con dao do A K đưa, đâm A N2 dẫn đến tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo A K đã phạm vào tội “Giết người” với vai trò là người đồng phạm xúi giục, giúp sức cho bị cáo A N.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố các bị cáo A N, A K phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của con người được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội. Các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều từng bị xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo A N đã bị Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong. Bị cáo A K cũng đã bị Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (tại thời điểm phạm tội của bản án trên, bị cáo là người chưa thành niên).

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đồng thời tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả, chi phí mai táng cho đại diện hợp pháp của bị hại và được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo A N sau khi phạm tội đã ra đầu thú trước cơ quan công an. Mặt khác, A N2 cũng có một phần lỗi khi đập phá tài sản của người thân của hai bị cáo. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi bị hại A N2 chết, bị cáo A N đã tác động gia đình (vợ của bị cáo A N – chị Mỹ D) bồi thường khắc phục một phần hậu quả, chi phí mai táng cho đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền này đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm, chị Mỹ D không yêu cầu bị cáo A N hoàn trả lại, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo A K đã tác động gia đình (cha, mẹ của bị cáo – ông A K1, bà Y R1) bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền 40.000.000 đồng. Số tiền này đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm, ông A K1, bà Y R1 không yêu cầu bị cáo A K hoàn trả lại, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các đồ vật:

  • - 01 con dao dài 41,7cm, lưỡi bằng kim loại cán bằng gỗ; 01 vỏ bọc dao bằng gỗ dài 31,6cm. Đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu huỷ.
  • - Dấu vết nghỉ máu thu tại hiện trường vị trí số 08, vị trí số 09 và mẫu máu thu của A N2. Đây là các mẫu máu thu khi điều tra nên tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo A N, A K phạm tội “Giết người

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo A N 15 (Mười lăm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/3/2024)

Xử phạt bị cáo A K 13 (Mười ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt để chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuyên tịch thu, tiêu huỷ:

  • - 01 con dao dài 41,7cm, lưỡi bằng kim loại dài 29,5cm, mũi nhọn phần rộng nhất 3,9cm; cán bằng gỗ, hình trụ tròn (không đều) dài 12,2, đường kính phần lớn nhất 2,6cm, một đầu cán được bọc kim loại màu vàng dài 1,9cm; phần cán và lưỡi bị bung hở, có một vòng kim loại hình bầu dục, kích thước (3x4,4)cm.
  • - 01 vỏ bọc dao bằng gỗ sơn màu vàng, có quấn dây màu đen, kích thước dài 31,6cm, chỗ rộng nhất 5,6cm.
  • - Dấu vết nghi máu ghi thu tại hiện trường vị trí số 08, vị trí số 09 và mẫu máu ghi thu của A N2.

Các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kon Tum.

3. Về án phí: Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo A N, A K, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/02/2025).

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - Cục THA dân sự tỉnh KT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh KT;
  • - Công an tỉnh KT;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh KT;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về giết người

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố: Các bị cáo A N, A K phạm tội “Giết người” Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo A N 15 (Mười lăm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/3/2024) Xử phạt bị cáo A K 13 (Mười ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt để chấp hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger