Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày: 18 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Anh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thị Đẹp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ái Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phan Tấn L; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 05 tháng 10 năm 2000, tại: Tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số G, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Cha: Phan Thành C, sinh năm 1968; Mẹ: Võ Thị L1, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là người thứ hai; Tiền án: Chưa có ; Tiền sự: Có 01 tiền sự - Ngày 22/7/2022, bị Ủy ban nhân dân Phường A1, thành phố S, tỉnh Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa thực hiện đóng phạt; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Lê Trần Thanh N; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 24 tháng 4 năm 1998, tại: Tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số E, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Lê Võ Thanh S, sinh năm 1975; Mẹ: Trần Thị Xuân O, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Hữu P, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Số B, đường P, khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đ (có mặt).
  2. Anh Nguyễn Hùng A, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Số B, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (có mặt).

- Người làm chứng: Anh Lê Hồng T, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Số G, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phan Tấn L là đối tượng có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa thực hiện đóng phạt, còn trong thời gian chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo tiếp tục thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 02/8/2022, bị cáo Phan Tấn L tìm gặp đối tượng Lê Hồng T để rủ đi ăn trộm gà; T đồng ý và sử dụng xe mô tô biển số 66P1-970-56 (xe T mượn của một người bạn tên “Bọ” không biết thông tin họ tên, địa chỉ) để chở L đi xung quanh địa bàn thành phố S tìm gà để trộm. Khi đến hộ số B, đường P, khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đ, T dừng xe lại, đứng bên ngoài cảnh giới, còn L leo rào vào trong, đi ra phía sau nhà phát hiện và bắt trộm 02 con gà trống (loại gà tre) của anh Nguyễn Hữu P rồi cả hai lên xe chạy đi. Trên đường đi, bị tổ tuần tra công an phường T kiểm tra phát hiện 02 con gà nên đưa về trụ sở làm việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 29/HĐ.ĐGTS ngày 15/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận: 02 con gà trống tre có tổng trọng lượng 2,6kg, trị giá là 312.000 đồng.

Vụ thứ hai:

Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 27/3/2024, bị cáo Phan Tấn L điện thoại rủ bị cáo Lê Trần Thanh N cùng đi tìm tài sản để trộm và được N đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 40 phút, ngày 28/3/2024, N điều khiển xe mô tô biển số 66C1-274.70 (xe Nhã thuê của ông Lê Tuấn S1) đến nhà nghỉ “Thu Ngân” để chở L cùng đi trộm. Hai bị cáo điều khiển xe đến trước cơ sở mua bán hoa kiểng “Tám Hùng”, thuộc khóm T, phường A, thành phố S, Đ, thấy cổng rào không khóa, không có người trông giữ nên bị cáo N ở bên ngoài cảnh giới, còn bị cáo L leo rào đột nhập vào nhà phát hiện 01 thùng loa hiệu PARAMAX Model Go300 và 02 Micro gắn trên thùng loa của anh Nguyễn Hùng A; vì thùng loa nặng nên L kêu N vào phụ mang ra xe; sau đó, cả hai đem loa về cất giấu tại phòng trọ số A, nhà nghỉ “Thu Ngân” rồi tiếp tục đi tìm tài sản lấy trộm; trên đường đi, cả hai bị lực lượng Công an tuần tra phát hiện nên đưa về trụ sở làm việc và đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 48/HĐ.ĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S kết luận: 01 thùng loa hiệu PARAMAX Model Go300 và 02 Micro có giá trị là 4.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, đã thu giữ và xử lý đồ vật, tài liệu như sau:

  • - 01 con gà trống tre, lông màu đỏ-đen, trọng lượng 1,5 kg và 01 con gà trống tre, lông màu vàng - xám, trọng lượng 1,1kg trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hữu P.
  • - 01 thùng loa hiệu PARAMAX Model Go300, chiều cao 60cm và 02 Micro không nhãn hiệu đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hùng A.

Các bị hại Nguyễn Hữu P và Nguyễn Hùng A đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSTPSĐ ngày 05/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, đã truy tố các bị cáo Phan Tấn L và Lê Trần Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Tấn L về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù; xử phạt bị cáo Lê Trần Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đã giải quyết xong.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. [2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của các bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Qua đó, đủ cơ sở xác định: Vào rạng sáng, ngày 28/3/2024, các bị cáo Phan Tấn L và Lê Trần Thanh N thực hiện hành vi lấy trộm thùng loa hiệu PARAMAX Model Go300 và 02 Micro, có giá trị là 4.500.000 đồng của anh Nguyễn Hùng A, tại khóm T, phường A, thành phố S. Ngoài ra, trước đó, bị cáo Phan Tấn L và đối tượng tên Lê Hồng T còn bắt trộm 02 con gà trống tre của anh Nguyễn Hữu P, trị giá 312.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội.

  1. [3] Xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích để tư lợi cá nhân.

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng với bản tính tham lam, lười lao động, cả hai đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác, để bán lấy tiền tiêu xài.

Bị cáo Phan Tấn L có 01 tiền sự - bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản” nhưng cố ý tiếp tục thực hiện 02 lần trộm cắp; điều này cho thấy, bị cáo chưa có ý thức chấp hành pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo L là người rủ rê và cũng là người thực hành tích cực nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện.

Đối với, bị cáo Lê Trần Thanh N khi được bị cáo L rủ rê tìm tài sản lấy trộm; lẽ ra, bị cáo phải biết khuyên can và không đồng ý; thế nhưng, bị cáo lại đồng thuận và cùng với bị cáo L thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực.

Mặc dù, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt không lớn nhưng đã thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật. Nhận thấy, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là khách quan, toàn diện; hoàn toàn phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành người công dân sống có ích; biết tuân thủ, chấp hành pháp luật; đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

  1. [4] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  2. [5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên có được tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để lượng mức hình phạt thỏa đáng.
  3. [6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
  4. [7] Về án phí: Các bị cáo Phan Tấn L và Lê Trần Thanh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  5. [8]. Đối với, đối tượng Lê Hồng T cùng với bị cáo L trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Hữu P có trị giá 312.000 đồng, T chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, trường hợp của đối tượng T, thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố S.
  6. [9]. Đối với, ông Lê Tuấn S1 khi cho N thuê xe mô tô biển số 66C1-274.70 nhưng không biết N sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản nên chưa đủ căn cứ xem xét, xử lý theo quy định.
  7. [10]. Đối với, người tên “Bọ” cho Lê Hồng T mượn xe mô tô biển số 66P1-970-56; sau đó, T sử dụng xe đi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, T không biết “Bọ” họ tên, địa chỉ cụ thể và chỉ nói với “Bọ” là mượn xe để đi công việc nên chưa đủ căn cứ xem xét, xử lý theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự:

    Tuyên bố: Các bị cáo Phan Tấn L và Lê Trần Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Phan Tấn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Trần Thanh N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

  2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

    Các bị cáo Phan Tấn L và Lê Trần Thanh N, mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b)
  • - VKSND Tp. Sa Đéc; (2b)
  • - Công an Tp. Sa Đéc; (4b)
  • - Chi cục THA Tp. Sa Đéc; (1b)
  • - Sở Tư pháp; (1b)
  • - Thi hành án phạt tù; (1b)
  • - Những người tham gia tố tụng; (1b)
  • - Lưu VT, TP; (2b)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 9 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger