|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:10/2025/HS-ST Ngày 13-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Chu Đàm Nguyên
- Ông Phạm Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga - Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Thị xã Quảng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 10/01/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/HSST-QĐ ngày 21/01/2025 và Thông báo thời gian mở lại phiên toà số 01/TB-TA ngày 03/02/2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đồng Văn C; sinh ngày 22/6/1995 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn Đ, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đồng Văn H và bà: Phạm Thị C1; Có vợ là Trần Thị Y và 02 (Hai) con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh 42 ngày, kể từ 11/01/2025 đến hết ngày 21/02/2025 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên. Có mặt;
- Họ và tên: Nguyễn Hữu D; sinh ngày 05/5/1995 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Tiến Đ và bà: Đỗ Thị T; Có vợ là Bùi Thị H1; chưa có con; Tiền án: Ngày 30/9/2020, TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, ngày 20/9/2023, chấp hành xong bản án; Tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh 42 ngày, kể từ ngày 11/01/2025 đến hết ngày 21/02/2025 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên. Có mặt;
- Họ và tên: Lê Văn Đ1; sinh ngày 01/01/1992 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn H, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn H2 và bà: Nguyễn Thị X; Có vợ là Phạm Thị H3 (đã ly hôn) và có 03 (Ba) con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/5/2017, TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án. Bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2024; Đang thực hiện Quyết định tạm giam 42 ngày, kể từ ngày 11/01/2025 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Có mặt;
- Họ và tên: Bùi Long H4; sinh ngày 20/3/1996 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu N, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Đình C2 và bà: Vũ Thị M; Có vợ là Vũ Thị N và 02 (Hai) con; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2024 đến ngày 14/11/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Đang thực hiện Quyết định về việc bảo lĩnh và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh 42 ngày, kể từ ngày 11/01/2025 đến hết ngày 21/02/2025 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên. Có mặt;
- Họ và tên: Nguyễn Văn H5; sinh ngày 04/4/1997 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn G, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H6 và bà: Lê Thị L; Có vợ là Giáp Thị B và 01 (Một) con; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 21 đến 30/10/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh 42 ngày, kể từ ngày 11/01/2025 đến hết ngày 21/02/2025 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên. Có mặt;
- Họ và tên: Ngô Đình H7; sinh ngày 30/9/1998 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Đình T1 và bà: Nguyễn Thị M1; Chưa có vợ, con; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh 42 ngày, kể từ ngày 11/01/2025 đến hết ngày 21/02/2025 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên. Có mặt;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần D3.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Chu Mạnh D1, sinh năm 1980. Nơi thường trú: Tổ C, khu T, phường C, thành phố C, Quảng Ninh. Có mặt.
* Người làm chứng: Dương Văn C3, sinh năm 1998. Nơi thường trú: khu A, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Hồi 11 giờ 30 phút, ngày 21/10/2024, tại gác xép (kho chứa hàng) của Công ty cổ phần D3 thuộc nhà số 228, đường Nguyễn Bình, khu Rặng Thông, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Long H4 đang ngồi chơi thấy Lê Văn Đ1, Nguyễn Hữu D và Đồng Văn C đi lên gác xép. Crủ Đ1 và D đánh bạc dưới hình thức đánh “Lốc” được thua bằng tiền, mọi người đều đồng ý.
Cách thức chơi “Lốc”: sử dụng bộ T2 lơ khơ gồm 52 lá bài sau đó bỏ các lá J, Q, K ra ngoài và chỉ dùng A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Sau đó, chia cho mỗi người 10 lá, người chơi đánh thứ tự từ phải qua trái, người chia bài được đánh trước. Nếu người chơi đánh “Đôi” (02 lá bài cùng số, khác chất), đánh “Sáp” (03 lá bài cùng số khác chất), “Tứ quý” (04 lá bài cùng số khác chất), “Sảnh” (03 lá bài trở lên, các lá bài có số liên tiếp nhau) thì người kế tiếp phải đánh lá bài tương tự nhưng số to hơn để chặn người đánh bài trước, nếu đánh những lá bài đơn lẻ thì gọi là cóc. Nếu người chơi thấy bài của mình to, đánh bài không ai chặn được thì có thể “Báo”. Nếu không có ai “Báo” thì những người chơi đánh theo thứ tự từ phải qua trái. Người chơi nào đánh bài hết trước là thắng. Những người còn lại cộng lá bài trên tay để tính tiền (quy định là 2.000 đồng trên một lá bài) và nộp cho người thắng. Khi có ai “Báo” và thắng thì những người thua phải nộp cho người thắng 50.000 đồng. Nếu người nào chơi mà chặn được người “Báo” trước đó thì người chơi còn lại phải nộp cho người đó 200.000 đồng. Quá trình chơi mà không đánh được cây nào gọi là “Lủng”, người “Lủng” phải trả cho người thắng 30.000 đồng. Người có bốn lá bài “2” thì được thắng luôn, những người chơi còn lại sẽ phải trả cho người thắng 80.000 đồng. Ai có các quân bài A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 gọi là “Lốc Rồng” thì thắng luôn, mỗi người còn lại phải trả cho người có “Lốc Rồng” 100.000 đồng.
Khi C, D, Đ1 đánh bạc đến khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi Nguyễn Văn H5 về, lên gác xép thấy mọi người đánh đánh bạc thì ngồi vào chiếu cùng tham gia đánh “Lốc”. Sau đó, khoảng 5 phút Ngô Đình H7 về thì cả 06 người H7, H4, C, D, Đ1, H5 cùng thống nhất đánh bạc dưới hình thức “Lốc gà ba lá đầu” để H7, H4 tham gia chơi cùng, sau đó chia 07 lá bài tiếp để C, D, Đ1, H5 tiếp tục đánh “Lốc” với nhau. Quá trình đánh “Ba lá đầu” C không tham gia nhưng để Hoàng mượn bài của mình, còn H4 dùng bài của H5 để tính điểm.
Cách thức chơi “gà cửa 03 lá bài đầu tiên”: Việc đánh “Ba lá đầu” sẽ tính điểm với người chia bài, điểm lớn nhất sẽ là ba quân bài giống nhau (gọi là sáp, ba quân “A” là lớn nhất, sau đó thứ tự lớn dần từ ba quân “2” đến ba quân “10”), nhỏ hơn sáp là liêng (ba quân liên tiếp nhau, thứ tự lớn dần từ quân “2” đến quân “10”), nhỏ hơn liêng sẽ tính điểm từ “0” điểm đến “9” điểm. Nếu người chơi bằng điểm nhau thì sẽ tính theo thứ tự chất rô, cơ, bích, tép. Mỗi ván cược người chơi có thể tự thoả thuận số tiền cược với nhau. Một lúc sau, Dương Văn C3 về nhưng chỉ ngồi xem mà không tham gia đánh bạc. Cả nhóm đánh bạc đến 12 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an thị xã Q tiến hành kiểm tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng:
- 01 chiếc chiếu, 01 bao nilon màu xanh và 52 quân bài tú lơ khơ;
- Thu giữ tại vị trí ngồi trên chiếu bạc của Đồng Văn C 238.000 đồng; Nguyễn Hữu D 527.000 đồng; Lê Văn Đ1 774.000 đồng; Nguyễn Văn H5 1.500.000 đồng; Bùi Long H4 150.000 đồng và Ngô Đình H7 44.000 đồng.
- Thu giữ trong người số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc của Đồng Văn C 3.900.000 đồng; Bùi Long H4 1.150.000 đồng và Ngô Đình H7 1.000.000 đồng;
Số tiền thu giữ của các đối tượng đánh bạc 9.283.000 đồng được gửi tại Kho bạc Nhà nước Quảng Yên theo Gói gửi số 12/2024/CATX của Công an thị xã Q tại Phiếu nhập kho ngày 21/11/2024
Số tiền không liên quan đến hành vi đánh bạc (thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu D 6.000.000 đồng; của Lê Văn Đ1 1.500.000 đồng và Nguyễn Văn H5 2.525.000 đồng) Cơ quan điều tra đã trả lại cho cho các bị cáo theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, thu giữ của anh Dương Văn C3 số tiền 5.930.000 đồng nhưng C3 không tham gia đánh bạc, Cơ quan điều tra đã trả lại theo quy định pháp luật.
Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường xảy ra vụ việc tại số nhà 228 khu Rặng Thông, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Từ cửa vào là kho để hàng, bên trong bếp và nhà vệ sinh. Tại phòng bếp có 01 cầu thang bằng sắt, bậc gỗ lên gác xép. Trên gác xép có 01 chiếu hình chữ nhật trải trên mặt sàn màu nâu kẻ sọc. Các bị cáo xác nhận vị trí này là nơi thực hiện hành vi đánh bạc.
Cáo trạng số 633/CT-VKSQY ngày 08/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Quảng Yên truy tố các bị cáo Đồng Văn C, Nguyễn Hữu D, Lê Văn Đ1, Bùi Long H4, Nguyễn Văn H5 và Ngô Đình H7 về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị căn cứ:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Hữu D từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi thời hạn đã tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Văn Đ1 từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đồng Văn C từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đồng Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo Đồng Văn C có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đồng Văn C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H5 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn H5 cho Ủy ban nhân dân xã L, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo Nguyễn Văn H5 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Văn H5 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Phạt tiền Bùi Long H4 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Phạt tiền Ngô Đình H7 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước
* Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếc chiếu nhựa và 01 bao nilon màu xanh. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 9.283.000 đồng các bị cáo dùng vào việc phạm tội
Cả 6 bị cáo đều có lời khai phù hợp với toàn bộ nội dung vụ án. Các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của bản thân và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể số tiền thu giữ tại vị trí ngồi trên chiếu bạc của Đồng Văn C 238.000 đồng; Nguyễn Hữu D 527.000 đồng; Lê Văn Đ1 774.000 đồng; Nguyễn Văn H5 1.500.000 đồng; Bùi Long H4 150.000 đồng và Ngô Đình H7 44.000 đồng. Ngoài ra, thu giữ trong người số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc của Đồng Văn C 3.900.000 đồng; Bùi Long H4 1.150.000 đồng và Ngô Đình H7 1.000.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ của các đối tượng đánh bạc 9.283.000 đồng. Số tiền không sử dụng vào việc đánh bạc bị thu giữ đã được trả lại theo quy định pháp luật.
Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Chu Mạnh D1) khai: Ông là quản lý của Công ty tại khu vực Quảng Ninh còn C, Đ1, H4 và H7 là nhân viên chính thức, D và H5 là cộng tác viên. Vật chứng bị thu giữ trong vụ án gồm 01 chiếc chiếu và 01 bao nilon màu xanh là tài sản của Công ty nhưng giá trị thấp nên Công ty không có yêu cầu nhận lại.
Người làm chứng Dương Văn C3 có lời khai thể hiện: khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 21/10/2024 khi anh đi giao hàng xong thì về kho của Công ty giao hàng nhanh để bàn giao hàng tồn sau đó anh lên gác xép thì thấy Đ1, D, C, H5 đang ngồi đánh bài bằng tú lơ khơ dưới hình thức “Sâm Lốc” được thua bằng tiền mặt 2.000 đồng/01 lá bài (quy ước “Báo” là 50.000 đồng, “Tứ quý 2” là 80.000 đồng, “Lủng” là 30.000 đồng, “Bắt Báo” là 200.000 đồng. Nếu không ai “báo” thì chơi theo thứ tự từ phải qua trái, người chơi nào đánh hết bài trước là thắng, những người còn lại bao nhiêu lá bài trên tay thì tính 2.000 đồng/01 lá bài trả tiền cho người thắng); Ngoài ra, có H4 và H7 đánh gà bên ngoài, anh C3 đứng tại cầu thang lên xuống để xem, được khoảng 10 phút thì lực lượng Công an đến kiểm tra bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc 3.233.000 đồng và thu giữ trong người các bị cáo 6.050.000 đồng sử dụng để đánh bạc.
Phần tranh luận: Các bị cáo và đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không tranh luận.
Lời nói sau cùng: cả 6 bị cáo đều nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật. Bị cáo Bùi Long H4 và Ngô Đình H7 mong muốn được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và cam đoan thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với lời khai của đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và lời khai của người làm chứng; Phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 21/10/2024; Sơ đồ hiện trường, Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản ảnh khám nghiệm hiện trường; Bản ảnh vật chứng...
Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 21/10/2024 tại Kho giao hàng của Công ty cổ phần D3 thuộc số B, đường N, khu R, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Đồng Văn C, Nguyễn Hữu D, Lê Văn Đ1, Nguyễn Văn H5, Bùi Long H4 và Ngô Đình H7 có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “Lốc” và “Cửa gà 03 lá đầu tiên” được thua bằng tiền (Trong đó C, D, Đ1 và H5 chơi chính, H4 và H7 ngồi ngoài thả cửa gà 03 lá đầu tiên) thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ số tiền 9.283.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và các công cụ đánh bạc.
Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự:
Điều 321. Tội đánh bạc
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
Đối với Dương Văn C3 có hành vi ngồi xem không tham gia đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý, HĐXX không xem xét giải quyết.
[3] Tính chất mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, xâm phạm tới trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự bình thường của xã hội, gây hoang mang, lo lắng cho doanh nghiệp và người lao động của doanh nghiệp là Công ty cổ phần D3 giao hành nhanh nói riêng và gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội nói chung; Do đó, phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa riêng và giáo dục chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Hữu D có 01 tiền án chưa được xoá án tích lại phạm tội đánh bạc, đây là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: cả 6 bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này bị cáo C là người khởi xướng, đánh bạc với số tiền nhiều nhất nên vai trò cao hơn các bị cáo khác, các bị cáo còn lại tham gia với tư cách là đồng phạm giản đơn; Tuy nhiên, trong vụ án này có bị cáo D phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên cần xử 02 bị cáo này mức án bằng nhau. Việc quyết định hình phạt đối với bị cáo C và D ngang nhau là phù hợp. Bị cáo D thuộc trường hợp tái phạm do đó phải xử phạt tù giam mới đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.
Xét nhân thân bị cáo Đ1 đã từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nằm trong diện quản lý của lực lượng Công an nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà nay còn thực hiện hành vi phạm tội do đó cần xử lý nghiêm để phòng ngừa chung và giáo dục riêng bị cáo. Tuy nhiên, vai trò đồng phạm của bị cáo là thứ yếu nên cho bị cáo hưởng mức án đầu khung hình phạt để bị cáo thấy được sự nhân đạo của pháp luật, cố gắng rèn luyện trong thời gian chấp hành án.
Các bị cáo C, H5, H4 và H7 đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xét nguyện vọng của các bị cáo H4 và H7 đề nghị được áp dụng hình phạt tiền thấy: các bị cáo mong muốn và cam đoan thực hiện nghĩa vụ đều có lợi cho Ngân sách nhà nước và phạt tiền cũng là hình phạt chính của tội phạm này, nên HĐXX chấp nhận.
Xét bị cáo C và H5 do không có điều kiện để thi hành hình phạt tiền thấy: các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng để tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục; việc xử lý các bị cáo chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, đủ để giáo dục riêng, phòng ngừa chung đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Quảng Yên đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật, phù hợp.
[6] Về vật chứng của vụ án:
- Số tiền 9.283.000 đồng và 52 quân bài tú lơ khơ đều là công cụ phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước toàn bộ tiên dùng vào việc đánh bạc và tịch thu, tiêu huỷ 52 quân bài tú lơ khơ.
- Số tiền 6.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn D2, 1.500.000 đồng thu giữ của Lê Văn Đ1 và 2.525.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H5 không dùng vào việc đánh bạc, Cơ quan điều tra đã trả lại các bị cáo theo quy định.
- 01 chiếc chiếu nhựa, 01 bao nilon màu xanh là công cụ phạm tội nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đề nghị nhận lại nên tịch thu, tiêu huỷ.
[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo H4 và H7 đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, các bị cáo còn lại thu nhập thấp không có tài sản khác, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Đ, Nguyễn Hữu D, Lê Văn Đ1, Bùi Long H4, Nguyễn Văn H5 và Ngô Đình H7 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Hữu D 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi thời hạn đã tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Văn Đ1 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đồng Văn C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đồng Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo Đồng Văn C có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đồng Văn C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H5 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm Giao bị cáo Nguyễn Văn H5 cho Ủy ban nhân dân xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo Nguyễn Văn H5 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Văn H5 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm b khoản 1 Điều 32; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Phạt tiền Bùi Long H4 20.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm b khoản 1 Điều 32; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Phạt tiền Ngô Đình H7 20.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước
* Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Hủy bỏ Quyết định về việc bão lĩnh số 01/2025/HSST-TA ngày 08/01/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 01/2025/HSST-THXC ngày 08/01/2025 của TAND thị xã Quảng Yên đối với bị cáo Bùi Long H4.
- Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 02, 03 và 04/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 08/01/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 03, 04 và 05/2025/HSST-THXC ngày 08/01/2025 của TAND thị xã Quảng Yên đối với bị cáo Đồng Văn C, Nguyễn Văn H5 và Ngô Đình H7.
* Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếc chiếu nhựa và 01 bao nilon màu xanh. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 9.283.000 đồng theo Gói niêm phong số 12/2024/CATX đã được Cơ quan điều tra chuyển kho bạc thị xã Q. (Thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên).
Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Đồng Văn C, Nguyễn Hữu D, Lê Văn Đ1, Bùi Long H4, Nguyễn Văn H5và Ngô Đình H7 mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - VKS; CA; T3; - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo, NCQL,NVLQ; - Trại tạm giam CA tỉnh Q; - CQCSĐT - C4; - Đội hồ sơ nghiệp vụ - C4; - Sở tư pháp; - Cục Q1 - Bộ C5; - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thanh Tâm |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tội đánh bạc (điều 321 bộ luật hình sự)
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội đánh bạc (Điều 321 Bộ luật Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng Văn C (cđp) phạm tội "Đánh bạc"
