|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày: 19-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thị Thanh Phượng và ông Nguyễn Quang Dân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Thất Nhật Tài - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Đỗ Thanh S, tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 01/6/1974 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ học vấn: Lớp 3/12; con ông Đỗ Thanh L, sinh năm 1953 và bà Trần Thị D, sinh năm: 1953; có vợ tên là Nguyễn Thị T, sinh năm 1975 và 05 người con; tiền án: Không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 16/12/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt.
- Trần Văn T1; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 02/7/1968 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: Lớp 5/12; con ông Trần M và bà Lê Thị H (đều đã chết); có vợ tên là Đào Thị P, sinh năm 1971 và 04 người con; tiền án: Không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Nguyễn Văn T2; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 10/6/1973 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ học vấn: Lớp 02/12; con ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1943 và bà Đỗ Thị X (đã chết); có vợ là Huỳnh Thị H1, sinh năm 1976 và 05 người con; tiền án: Không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 16/12/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Nguyễn Văn Đ; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 17/8/1971 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ học vấn: Lớp 02/12; con ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1943 và bà Đỗ Thị X (đã chết); có vợ tên là Trần Thị Kim C, sinh năm 1974 và 04 người con; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 16/12/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Huỳnh D1; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 15/5/1974 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 9/12; con ông Huỳnh D2, sinh năm 1930 và bà Nguyễn Thị T4 (đã chết) có vợ tên là Trần Thị Bạch Y, sinh năm 1976 và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/12/2024 cho đến nay, có mặt.
- Đào P1; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 10/3/1960 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn E, xã V, huyện P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông Đào C1 và bà Lê Thị Q (đều đã chết); có vợ tên là Nguyễn Thị K, sinh năm 1966 và 09 người con; tiền án: Không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/12/2024 cho đến nay, có mặt.
- Trần Hoài N; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; Sinh ngày 04/7/1985; nơi sinh: thành phố H; Nơi cư trú: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ học vấn: Lớp 02/12; con ông Trần L1, sinh năm 1954 và bà Trần Thị E, sinh năm 1957; có vợ là Nguyễn Thị N1, sinh năm 1988 và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/12/2024 cho đến nay, có mặt.
- Nguyễn Văn T5; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 07/10/1978 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ học vấn: Lớp 4/12; con ông Nguyễn Văn H2 (đã chết) và bà Lê Thị B, sinh năm 1938; có vợ tên là Trần Thị X1, sinh năm 1982 và 04 người con; tiền sự: Không; tiền án: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/12/2024 cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đào Thị Ái N2, sinh năm 1998; Trú tại: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố H, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn T6, sinh năm 1979; anh Nguyễn Văn T7, sinh năm 1997; Đều trú tại: Thôn F, xã V, huyện P, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 14/12/2024, Trần Văn T1; Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T2, đến nhà Đỗ Thanh S, trú tại thôn F, xã V, huyện P, thành phố H, để uống nước bàn chuyện hôm sau đi biển đánh cá; tại đây S rủ T1, Đ, T2, đánh bạc bằng hình thức đánh bài mậu binh thắng thua bằng tiền thì cả ba người đồng ý; S lấy bài tú lơ khơ có sẵn ở trong nhà ra để chuẩn bị đánh bạc; sau đó lần lượt có Huỳnh D1, Đào P1, đến cùng tham gia đánh bạc bằng cách đặt tiền theo T1; Nguyễn Văn T5 đến đánh bạc đặt tiền theo S; Trần Hoài N đến đánh bạc đặt tiền theo Đ (những người này cùng trong hội nghề cá).
Các bị cáo đã chuẩn bị tiền để dùng đánh bạc như sau: S mang theo 1.800.000đ, T2 mang theo 2.590.000đ, Đ mang theo 1.000.000đ, T1 mang theo 3.300.000đ, D1 mang theo 1.500.000đ, P1 mang theo 550.000đ, T5 mang theo 150.000đ, Nam mang theo 200.000đ và thống nhất mỗi người làm cái 03 ván, mức đặt cược 01 ván bài là từ 50.000đ đến 100.000đ.
Cách thức chơi đánh bạc bài Mậu binh như sau:
Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá để chơi. Người chơi sẽ đặt tiền cược của mình rồi người cầm cái sẽ chia cho mỗi người chơi 13 lá bài, tùy vào việc tính toán và sắp xếp của mỗi người chơi, 13 lá bài này sẽ được sắp xếp sao cho thành những chi khác nhau (xếp 13 lá bài của mình thành 3 chi). Gồm 5 quân cho chi đầu và chi ở giữa, 3 quân còn lại ở chi cuối. Giá trị của quân bài sẽ được sắp xếp theo số theo thứ tự từ lớn đến nhỏ như sau:
A (xì, trong đó gồm xì cơ, rô, chuồn, bích), K (già, trong đó gồm già cơ, rô, chuồn, bích), Q (đầm, trong đó gồm đầm cơ, rô, chuồn, bích), J (bồi, trong đó gồm bồi cơ, rô, chuồn, bích); lần lượt đến 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2.
Bài sẽ được tính như sau với độ tăng dần từ trên xuống dưới. Cụ thể:
Mậu thầu: Không có liên kết các lá bài. Ví dụ: A bích, Q chuồn, 10 cơ, 9 rô 8 cơ; Đôi (zách): 7 rô, 7 chuồn, 10 bích, Q chuồn, A bích; Thú: 2 đôi (chi cuối không có). Ví dụ: J rô, J chuồn, 9 bích, 9 cơ, K chuồn; Sám (3 lá cùng số): K cơ, K rô, K chuồn, A chuồn, 2 bích; Sảnh: 5 lá có số liên tiếp nhau (chi cuối không có). Liên kết: A, 2, 3, 4, 5 cũng gọi là sảnh nhưng là Sảnh N3, chỉ đứng sau Sảnh Đ1 (A, K, Q, J, 10); T8: 5 lá cùng chất (chi cuối không có). Ví dụ: 7 rô, Q rô, 10 rô, K rô, A rô; Cù Lũ: 1 Sám (cặp 3) & 1 Đôi (chi cuối không có). Ví dụ: Q cơ, Q rô, Q bích, 9 chuồn, 9 bích. Ở mức bài đặc biệt này, người chơi có thể thắng trực tiếp mà không cần phải so từng chi; Sảnh rồng: Bạn có 13 lá từ 2 đến A không đồng chất; 3 thùng: Bạn có ba thùng phá sảnh ở cả ba chi; Tứ quý: 4 lá cùng số; Thùng phá sảnh: Dây đồng chất; Đồng màu 1: Bạn có 13 lá đồng màu đen hoặc đỏ; Đồng màu 2: Bạn có bài có 12 lá đồng màu đen hoặc đỏ hoặc đỏ hoặc đen; Lục phé bôn: Bạn có 6 đôi và 1 mậu thầu; Người chơi sẽ tiến hành so các chi với người làm cái để xem kết quả thắng thua, nếu thắng 2 chi thì sẽ thắng.
Với cách thức và hình thức đánh bạc nói trên, các bị cáo cùng nhau đánh bạc được thua bằng tiền từ 12 giờ 30 phút cho đến 15 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ tại chiếu bạc gồm 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; số tiền: 6.060.000đ. Thu trong người các bị cáo: Đỗ Thanh S, số tiền 6.000.000đ; Trần Văn T1, số tiền 3.950.000đ; Nguyễn Văn T2, số tiền 1.690.000đ; Huỳnh Dõng, số tiền 2.700.000đ; Đ, số tiền 500.000đ. Tất cả số tiền đã thu giữ nói trên, các bị cáo đều đã dùng và sẽ dùng cho việc đánh bạc. Riêng số tiền 6.000.000đ đã thu giữ trong người của S, Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ trong đó có 5.000.000đ là không dùng cho việc đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 15.900.000đ.
Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKSPV ngày 26/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đã truy tố các bị cáo Đỗ Thanh S, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh D1, Đào P1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5 về tội “Đánh bạc” theo theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đỗ Thanh S, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh D1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5; Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào P1.
Đề nghị xử phạt Đỗ Thanh S từ 25.000.000đ đến 35.000.000đ; đề nghị xử phạt các bị cáo Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Đào P1. Huỳnh D1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5 mỗi bị cáo từ 20.000.000₫ đến 30.000.000đ. Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 15.900.000 đồng, tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000đ của bị cáo Đỗ Thanh S để bảo đảm cho việc thi hành án; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của các bị cáo như sau:
Các bị cáo Đỗ Thanh S, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh D1, Đào P1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5 đều đã khai nhận các hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về bản cáo trạng và quan điểm luận tội.
Các bị cáo đều trình bày từ trước đến nay chưa lần nào vi phạm pháp luật, nguyên nhân phạm tội là do nhận thức pháp luật còn hạn chế, nghĩ đánh vài ván cho vui để ngày mai ra ra khơi đánh cá nhưng đã vi phạm pháp luật. Hầu hết giữa các bị cáo đều có quan hệ anh em, bạn bè trong hội nghề cá, hoành cảnh kinh tế gia đinh rất khó khăn, đông con. Vì vậy, kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, tiếp tục lao động sản xuất để chăm lo đời sống gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng thời gian từ 12 giờ 30 phút đến 15 giờ ngày 14/12/2024, tại thôn F, xã V, huyện P, thành phố H; Đỗ Thanh S, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh D1, Đào P1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5; có hành vi cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài mậu binh thắng thua bằng tiền thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo đã dùng và sẽ dùng để đánh bạc là 15.900.000đ.
Với mục đích đánh bạc trái phép thắng, thua bằng tiền như đã nêu ở trên, các bị cáo Đỗ Thanh S, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh D1, Đào P1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Do vậy, Cáo trạng số 07/CT-VKSPV ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đã truy tố các bị cáo như đã nêu ở trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đều là những người có năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và biết được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn trục lợi các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Trừ bị cáo Đào P1, tất cả các bị cáo còn lại đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Xét về nhân thân: Trừ bị cáo Đào P1, tất cả các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, chưa lần nào vi phạm pháp luật. Đối với bị cáo Đào P1, năm 1995 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt, được đương nhiên xóa án tích.
[7] Xét căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy, đây là vụ án có đồng phạm với tính chất giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Trừ bị cáo P1, tất cả các bị cáo đều có nhân thân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa lần nào có hành vi vi phạm pháp luật về đánh bạc. Do vậy, cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền theo quy định tại điều 35 của Bộ luật hình sự cũng là đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần căn cứ vào vai trò, vị trí, số tiền của từng bị cáo sử dụng để đánh bạc để có mức hình phạt tương xứng trong vụ án đồng phạm. Cụ thể, các bị cáo khởi xướng, trực tiếp đánh như S, T1, Đ, T2 phải chịu mức hình phạt cáo hơn các bị cáo đặt tiền theo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 5.000.000đ bị cáo S mượn của chị Đào Thị Ái N2 (con dâu của Đỗ Thanh S) để trả cho bạn đi tàu cá, không dùng vào việc đánh bạc nên cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ đẻ bảo đảm cho việc thi hành án.
Đối với 15.900.000đ thu giữ trên chiếu bạc và trên người các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, xét thấy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng xét thấy đây là vật chứng, dụng cụ các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Buộc các bị cáo Đỗ Thanh S, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh D1, Đào P1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thanh S, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh D1, Đào P1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5 phạm tội “ Đánh bạc”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đỗ Thanh S, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh D1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5; Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào P1.
- - Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh S số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Đào P1 số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Huỳnh D1 số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Trần Hoài N số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
- - Tịch thu sung công vào ngân sách nhà nước số tiền 15.900.000 đồng (được tạm giữ tại tài khoản 3949.0.1054091.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang).
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo Đỗ Thanh S (được tạm giữ tại tài khoản 3949.0.1054091.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang) để bảo đảm cho việc thi hành án.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng (có đặc điểm theo biên bản giao nhận tài liệu vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan Điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Đỗ Thanh S, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Huỳnh D1, Đào P1, Trần Hoài N và Nguyễn Văn T5, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Sang |
7
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
