TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày: 19-3-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quang Dũng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Thị Toàn |
| Ông Nguyễn Tiến Thị |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Chính - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Quách Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn G; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 6 năm 1988; Nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Nguyễn Xuân D; Sinh năm 1952; Con bà: Nguyễn Thị M; Sinh năm: 1960; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị N; Sinh năm: 1989; Con: 02 đứa, đứa lớn sinh năm 2006, đứa nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Nguyễn Văn G bị Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 159, ngày 03/12/2024 với mức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; đã chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 23/01/2025 cho đến nay. (Có mặt)
Bị hại:
- Bà Trần Thị V, sinh năm: 1964; Nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Chị Võ Thị H, sinh năm: 1987; Nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
- Anh Trịnh Văn H1, sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Thôn Lê Lợi, xã Kỳ Xuân, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Tiến C, sinh năm: 1958; Nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn G làm nghề buôn bán thức ăn gia súc, gia cầm tại địa bàn huyện K. Vào sáng ngày 02/01/2025, Nguyễn Văn G đi xe đạp điện từ nhà của mình ở xã K, huyện K đến địa bàn các thôn ở xã K, huyện K để tìm kiếm khách hàng. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi qua nhà của bà Trần Thị V, ở thôn K, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì Nguyễn Văn G dừng xe lại và đi vào nhà để đặt vấn đề mua bán thức ăn gia súc, gia cầm. Khi vào trong sân nhà, Nguyễn Văn G thấy không có ai nên gọi lớn thì từ phía sau vườn có người đàn ông trả lời vọng lên. Lúc này, Nguyễn Văn G thấy một chiếc điện thoại di động hiệu Samg Sung, màu đen để trên bàn uống nước giữa sân nhà nên Nguyễn Văn G đã lấy chiếc điện thoại di động bỏ vào túi quần của mình rồi đi ra khỏi nhà bà Trần Thị V. Sau khi lấy trộm được tài sản, Nguyễn Văn G đưa đến cửa hàng điện thoại “Hải Hà M", ở thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh bán cho chị Võ Thị H và Trịnh Văn H1 (chủ cửa hàng) với giá 950.000 đồng. Khi bán điện thoại trộm cắp, Nguyễn Văn G nói dối là tài sản của mình nên chị Võ Thị H không biết tài sản do trộm cắp mà có. Số tiền bán điện thoại trộm cắp, Nguyễn Văn G sử dụng chi tiêu cá nhân. Sau khi rà soát đối tượng, chiều cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện K triệu tập Nguyễn Văn G đến làm việc thì Nguyễn Văn G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Chiếc điện thoại hiệu Sam Sung, màu đen mà Nguyễn Văn G trộm cắp là tài sản của bà Trần Thị V, sinh năm 1964, ở thôn K, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc điện thoại mà Nguyễn Văn G trộm cắp của bà Trần Thị V trị giá 3.000.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện K đã thu giữ của Nguyễn Văn G: 01 chiếc xe đạp điện, hiệu TH36BIKE, màu đen- đỏ, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung, mà đen, số seri R95R900K57P, Imei: 359443990268434, đã qua sử dụng. Hiện chiếc điện thoại đã trả lại cho bà Trần Thị V là chủ sở hữu; còn chiếc xe đạp điện chuyển Chi cục THADS huyện K chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, bà Trần Thị V yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 300.000 đồng tiền chi phí phát sinh trong quá trình mất điện thoại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị H yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 950.000đ. Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn G đã tự nguyện bồi thường cho bà Trần Thị V và hoàn trả đầy đủ cho chị Võ Thị H; Hiện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại đồng thời bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKS-KA ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn G từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án; Hình phạt bổ sung: Không; Về dân sự: Không; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe mà bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Tại phần tranh luận, bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làmg chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 02/01/2025, quá trình đi bán thức ăn gia súc gia cầm, bị cáo đã vào nhà của bà Trần Thị V ở thôn K, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, lấy trộm một chiếc điện thoại hiệu Sam Sung, màu đen để trên bàn uống nước trong sân nhà, trị giá 3.000.000 đồng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có một tiền sự: Ngày 03/12/2024 Nguyễn Văn G bị Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành về hành vi “Trộm cắp tài sản”; đã chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
- [4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [5] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là thỏa đáng.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, bà Trần Thị V yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 300.000 đồng tiền chi phí phát sinh trong quá trình mất điện thoại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị H yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 950.000 đồng tiền mua chiếc điện thoại trộm cắp. Bị cáo Nguyễn Văn G đã tự nguyện bồi thường cho bà Trần Thị V và hoàn trả đầy đủ cho chị Võ Thị H. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
- [7] Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện K đã thu giữ của Nguyễn Văn G: 01 chiếc xe đạp điện, hiệu TH36BIKE, màu đen- đỏ, đã qua sử dụng. Chiếc xe này bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung, mà đen, số seri R95R900K57P, Imei: 359443990268434, đã qua sử dụng. Hiện chiếc điện thoại đã trả lại cho bà Trần Thị V là có căn cứ.
- [8] Các vấn đề liên quan khác: Trong vụ án này Anh Trịnh Văn H1 và Chị Võ Thị H mua của bị cáo chiếc điện thoại nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo G trộm cắp, nên không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có”
- [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 331, khoản 1 Điều 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 3, khoản 1, Điều 6, khoản 1, Điều 21, điểm a, khoản 1 điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn G 07 (bảy) tháng tù thời hạn tù được tính từ ngày đi thi hành án.
Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe đạp điện, hiệu TH36BIKE, màu đen- đỏ, đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Dũng |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Nguyễn Văn Giáp phạm tội Trộm cắp tài sản
