|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HS-ST
Ngày 13-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Công Bình; nghề nghiệp: Giáo viên
- Ông Nguyễn Văn Hùng; nghề nghiệp: Công chức
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa:
Ông Trương Thanh Hà và ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Phạm Quốc T. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Võ Thị T1, sinh năm 1937 (chết); có vợ là Trần Thị T2, sinh năm 1979 và 01 người sinh năm 2009; tiền án: 01 tiền án, bị Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2015/HSST ngày 18/3/2015; tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
-
Trần Văn Đ. Sinh ngày 29 tháng 3 năm 1988. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L, sinh năm 1949 (chết) và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1956; vợ con chưa con; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
-
Lâm Tấn Đ1. Sinh ngày 09 tháng 7 năm 2003. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Quốc C1, sinh năm 1977 và bà Trần Thị P, sinh năm 1979; vợ con chưa con; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
-
Trương Chí T4. Sinh ngày 18 tháng 02 năm 1985. Nơi cư trú: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thanh Đ2, sinh năm 1963 và bà Lại Thị Lệ T5, sinh năm 1963; vợ là Nguyễn Thị Tố Q, sinh năm 1990; chưa có con; tiền án: Không có; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép, bị Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 41/QĐ-XPHC ngày 24/3/2023; nhân thân: bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2007/HSST ngày 20/6/2007. (có mặt tại phiên tòa)
-
Liêu Trung K. Sinh ngày 15 tháng 12 năm 2002. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Liêu Văn T6, sinh năm 1977 và bà Dương Thị T7, sinh năm 1978; vợ con chưa con; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
-
Lê Quốc V. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984. Nơi cư trú: Ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ3, sinh năm 1950 và bà Phan Thị L1, sinh năm 1956; vợ là Nguyễn Tố H, sinh năm 1981; có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
-
Nguyễn Văn Đ4. Sinh ngày 02 tháng 08 năm 1983. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1956; vợ là Mai Thị Ú, sinh năm 1988; có 02 người con; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 06/12/2023, Đánh bạc trái phép, Phòng C4 Công an tỉnh T lập DCB số 75 về việc đánh bạc đồng thời ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng theo Quyết định số 239/QĐ-XPHC ngày 01/12/2023. (có mặt tại phiên tòa)
-
Trần Văn P1. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ5, sinh năm 1945 và bà Trương Thị E, sinh năm 1946; vợ là Nguyễn Thị T8, sinh năm 1995; có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
-
Trần Quốc A. Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1973. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C2, sinh năm 1942 (chết) và bà Nguyễn Thị P2, sinh năm 1942 (chết); vợ là Lê Thị T9, sinh năm 1975; có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị Công an thị xã D xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, theo Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 19/01/2022 (có mặt tại phiên tòa)
-
Trần Văn L3. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Nuôi tôm; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q1, sinh năm 1955 (chết) và bà Trần Thị S, sinh năm 1956; vợ là Trần Thị N1, sinh năm 1988; có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
-
Phạm Công L4. Sinh ngày 12 tháng 11 năm 1999. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thành N2, sinh năm 1975 và bà Trần Thị L5, sinh năm 1977; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
-
Thạch Quan T10. Sinh ngày 15 tháng 12 năm 2006. Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Quan D, sinh năm 1978 và bà Thạch Thị M, sinh năm 1980; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
-
Lê Quốc C3. Sinh ngày 18 tháng 10 năm 2004. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M1, sinh năm 1979 và bà Lê Thị T11, sinh năm 1983; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không có. (có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ: Luật sư Lê Tranh Đ6, thuộc Văn phòng L6 - Đoàn Luật sư tỉnh T. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, bị cáo Trương Chí T4 sử dụng mạng xã hội Facebook gọi cho bị cáo Lê Quốc C3 để nhờ C3 tìm chủ gà trên địa bàn thị xã D đá ăn thua bằng tiền số tiền 1.600.000 đồng. C3 nghĩ tình bạn bè nên đồng ý giúp T4. Sau đó, C3 sử dụng số điện thoại 0389.584.xxx gọi vào số điện thoại 0356.810.xxx của bị cáo Phạm Quốc T để kêu Tuý kiếm gà đá với gà của T4. T đồng ý và T gọi Z cho bị cáo Nguyễn Văn Đ4, T hỏi bị cáo Đ4 “có gà nặng 3.2kg để đá với gà của băng Cầu N không”, Đ4 trả lời “có”, T nói với Được “khoảng 14 giờ 30 phút ôm gà lại sân nhà ông Trần Văn Đ ở ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh để đá gà ăn thua bằng tiền”, Đ4 đồng ý. Sau đó T gọi điện cho C3 biết thời gian, địa điểm. Tiếp theo C3 gọi Facebook cho T4 để thông báo thời gian địa điểm đá gà ăn thua bằng tiền mà C3 và T đã thống nhất, nghe điện thoại của C3 xong thì T4 gọi Facebook rủ bị cáo Thạch Quan T10, sinh ngày 15/12/2006, trú tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh đi đá gà, bị cáo T10 đồng ý. Khoảng 13 giờ 30 cùng ngày, C3 gặp bị cáo Lâm Tấn Đ1, sinh ngày 09/7/2003, trú ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh tại một quán cà phê thuộc Phường B, thị xã D, tại đây C3 rủ Đ1 đi đá gà, Đ1 đồng ý.
Khi hẹn được chủ gà để đá với gà của T4 thì khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, T mang theo số tiền 2.310.000 đồng và điều khiển xe Honda Vision biển kiểm soát 84F1-27993, đem theo 01 cái cân đồng hồ, 04 cây cựa sắt, 06 cuộn băng keo đến nhà bị cáo Trần Văn Đ. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, bị cáo Lâm Tấn Đ1 và Lê Quốc C3 đi chung một xe dẫn đường cho bị cáo Thạch Quan T10 chở bị cáo Trương Chí T4 ôm theo một con gà trống lông màu đỏ - đen nặng 3,2kg đến nhà ông cáo Điện, khi T10, T4, Đ1, C3 đến đây thì có mặt các bị cáo Phạm Quốc T, Trần Văn Đ, Nguyễn Văn Đ4, Trần Quốc A, Trần Văn P1, Phạm Công L4, Trần Văn L3, Liêu Trung K và Lê Quốc V. Lúc này bị cáo T có xin bị cáo Đ cho T tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền nhưng bị cáo Đ không cho, T tiếp tục năn nỉ xin Điện, do T năn nỉ nhiều lần và những người đi chung là người quen nên bị cáo Đ đồng ý cho T dùng sân nhà của mình để tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền và Đ trả lời Túy “đá một lần này thôi ngen, công an dạo này nhiều lắm”. Sau khi Đ đồng ý, đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, bị cáo T kêu Được và T4 để gà lên cân, T coi cân, tiếp theo Túy vẽ vòng tròn và để 04 cây cựa sắt, 06 cuộn băng keo trong vòng tròn, lúc này Phạm Công L4 lấy 02 cây cựa sắt, 03 cuộn băng keo để trồng cựa sắt vào chân con gà trống, lông màu đỏ-đen, chân màu vàng, nặng 3, 2kg của bị cáo Đ4. T4 lấy 02 cây cựa sắt, 03 cuộn băng keo và nhờ T10 ôm gà để T4 trồng cựa vào chân con gà trống, lông màu đỏ-đen, chân màu trắng, nặng 3,2kg của T4. Sau khi trồng cựa xong, T thống nhất với hai bên chủ gà đá xổ 1.600.000 đồng nhưng T4, Đ1 yêu cầu T cược thêm tiền, nghe T4, Đ1 yêu cầu, T đồng ý và ghi nhận thêm tiền cược của mỗi bên tham gia cá cược là 10.000.000 đồng, trong lúc T đang ghi nhận thêm tiền cá cược thì C3 có nói với T "còn tiền không, nếu còn thì đá thêm một, hai triệu hả thả gà".
Bên gà của bị cáo Trương Chí T4 chấp gà của bị cáo Nguyễn Văn Đ4 và những người tham gia cá cược theo con gà của Nguyễn Văn Đ4 gồm: Nguyễn Văn Đ4 (chủ gà) cược số tiền 2.500.000 đồng trong đó 1.500.000 đồng đá ăn đồng (theo tỷ lệ 1/1) và 1.000.000 đồng theo tỷ lệ mười ăn tám (thắng được 1.000.000 đồng, thua 800.000 đồng); Lê Quốc V (cá cược lần thứ nhất) là 1.000.000 đồng theo tỷ lệ mười ăn tám; phần của T là 500.000 đồng đá ăn đồng; phần của Trần Quốc A bảo lãnh số tiền cược là 6.000.000 đồng theo tỷ lệ mười ăn bảy, phần 6.000.000 đồng này gồm: A 1.000.000 đồng (thắng được 1.000.000 đồng, thua 700.000 đồng), L4 1.000.000 đồng, P1 1.000.000 đồng, L3 1.000.000 đồng, V (cá cược lần thứ hai) 1.000.000 đồng, Đ 500.000 đồng (thắng được 500.000 đồng, thua 350.000 đồng) và K 500.000 đồng.
Những người tham gia bên gà của bị cáo T4 gồm: T4 tham gia cá cược 9.000.000 đồng, bị cáo Lâm Tấn Đ1 tham gia cá cược 1.000.000 đồng. Do T không biết Trương Chí T4 nên bị cáo Lâm Tấn Đ1 đứng ra bảo lãnh số tiền cược 10.000.000 đồng. Ghi nhận tiền cá cược xong thì T nói với Đ1 "mười triệu nghen", Đ1 đồng ý và Đ1 có nói với T4 số tiền cá cược là 10.000.000 đồng, T4 đồng ý. Sau đó T đếm "một, hai, ba" cho L4 và T4 thả gà. T đứng giữa vòng tròn làm trọng tài phân xử thắng thua. Trong trận gà này, bên nào thắng sẽ trả 500.000 đồng tiền làm biện cho T. Sau khi thống nhất số tiền cá cược mỗi bên tham gia là 10.000.000 đồng nhưng do gà của T4 chấp gà của Được theo tỷ lệ như sau: 2.000.000 đồng đá đồng; 2.000.000 đồng đá mười ăn tám; 6.000.000 đồng đá mười ăn bảy nên tổng số tiền cá cược hai bên bỏ ra là 17.800.000 đồng. Trận gà này đang đá được vài phút chưa phân xử thắng hay thua thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ nên chưa có ai chung, nhận tiền của ai và T cũng chưa nhận được số tiền 500.000 đồng làm biện.
Về số tiền dùng vào việc đánh bạc tại Cơ quan điều tra các bị cáo thừa nhận như sau:
-
- Phạm Quốc T sử dụng số tiền 2.310.000 đồng vào mục đích đánh bạc và tổ chức đánh bạc (gồm 1.810.000 đồng T dùng tổ chức đánh bạc thói tiền biện và 500.000 đồng dùng vào việc đánh bạc theo tỷ lệ đá ăn đồng).
-
- Trần Văn Đ đem theo và sử dụng số tiền 350.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Điện cá cược số tiền 500.000 đồng theo tỷ lệ mười ăn bảy (thắng được 500.000 đồng, thua chung 350.000 đồng).
-
- Nguyễn Văn Đ4 mang theo số tiền 2.500.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Trong đó 1.500.000 đồng cá cược theo tỷ lệ đá ăn đồng (tỷ lệ 1/1) và 1.000.000 đồng cá cược theo tỷ lệ mười ăn tám (thắng được 1.000.000 đồng thua 800.000 đồng).
-
- Lê Quốc V sử dụng số tiền 1.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc gồm 1.000.000 đồng theo tỷ lệ mười ăn tám (thắng được 1.000.000 đồng thua 800.000 đồng và 1.000.000 theo tỷ lệ mười ăn bảy (thắng được 1.000.000 đồng thua 700.000 đồng).
-
- Trần Quốc A sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc theo tỷ lệ mười ăn bảy (thắng được 1.000.000 đồng thua 700.000 đồng).
-
- Phạm Công L4 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc theo tỷ lệ mười ăn bảy (thắng được 1.000.000 đồng thua 700.000 đồng).
-
- Trần Văn P1 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc theo tỷ lệ mười ăn bảy (thắng được 1.000.000 đồng thua 700.000 đồng).
-
- Trần Văn L3 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc theo tỷ lệ mười ăn bảy (thắng được 1.000.000 đồng thua 700.000 đồng).
-
- Liêu Trung K đem theo và sử dụng số tiền 350.000 đồng vào mục đích đánh bạc. K cá cược số tiền 500.000 đồng theo tỷ lệ mười ăn bảy (thắng được 500.000 đồng, thua chung 350.000 đồng).
-
- Trương Chí T4 sử dụng số tiền 9.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc
-
- Lâm Tấn Đ1 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc
* Tại Kết luận giám định số 469/2024/KLGĐ ngày 08/11/2024 của Trung tâm P3 kết luận:
Kết luận theo tiêu chuẩn y học:
Căn cứ Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế Thế giới về các rối loạn tâm thần và hành vi hiện hành (ICD-10); căn cứ Thông tư số 23/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y ban hành quy trình giám định pháp y tâm thần và biểu mẫu sử dụng trong giám định pháp y tâm thần, các Giám định viên tham gia giám định đối tượng giám định:
Họ và tên: Trần Văn Đ.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 19/6/2024 và thời điểm hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng rượu (F10.71-ICD10).
Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:
Căn cứ Bộ luật hình sự năm 2015; căn cứ vào khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của đối tượng giám định trong từng thời điểm, đặc biệt tại thời điểm xảy ra vụ việc, các Giám định viên tham gia giám định thảo luận và xác định đối tượng giám định có tình trạng nhận thức, điều khiển hành vi sau đây:
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 19/6/2024 và thời điểm hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Đương sự không thuộc trường hợp cần phải đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
* Cáo trạng số 08/CT-VKS-HS ngày 03/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã truy tố:
-
- Bị cáo Phạm Quốc T tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a khoản 1 điều 322 Bộ luật hình sự.
-
- Bị cáo Trần Văn Đ tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 1 điều 322 Bộ luật hình sự.
-
- Các bị cáo Trương Chí T4, Lâm Tấn Đ1, Liêu Trung K, Lê Quốc V, Nguyễn Văn Đ4, Trần Văn P1, Trần Quốc A, Trần Văn L3, Phạm Công L4, Lê Quốc C3 và Thạch Quan T10 tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên thay đổi một phần nội dung Cáo trạng đối với bị cáo Trần Văn Đ là truy tố bị cáo Đ tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a khoản 1 điều 322 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, diễn biến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 35; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T từ 25 đến 30 triệu đồng đối với tội “Đánh bạc”, xử phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù đối với tội “Tổ chức đánh bạc”.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 35; Điều 38; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 20 đồng đến 25 triệu đồng đối với tội “Đánh bạc”, xử phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù đối với tội “Tổ chức đánh bạc”.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Chí T4 từ 40 đến 45 triệu đồng.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn L3 từ 25 đến 30 triệu đồng.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Lâm Tấn Đ1 từ 20 đến 25 triệu đồng.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ4 từ 35 đến 40 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Liêu Trung K từ 20 đến 25 triệu đồng.
- - Xử phạt bị cáo Lê Quốc V từ 30 đến 35 triệu đồng.
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn P1 từ 20 đến 25 triệu đồng.
- - Xử phạt bị cáo Trần Quốc A từ 20 đến 25 triệu đồng.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Công L4 từ 20 đến 25 triệu đồng.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 99; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thạch Quan T10 từ 20 đến 25 triệu đồng.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 21.010.000 đồng mà các bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc và tổ chức đánh bạc và cái cân đông hồ loại 5kg, hiệu Nhơn Hoà đã qua sử dụng; đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 cây cựa sắt bằng kim loại đã qua sử dụng.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ thống nhất với Cáo trạng đã truy tố bị cáo về hai tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội trong khi đang bị bệnh nên hạn chế khả năng điều khiển hành vi, bị cáo có người thân trong gia đình tham gia cách mạng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị khi luận tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng số 08/CT-VKS-HS ngày 03/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải đã truy tố, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; sơ đồ hiện trường; bản ảnh hiện trường; lời tự khai của các bị cáo; vật chứng là gà, cựa gà, cân đồng hồ...Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện như sau:
[2] Ngày 19/6/2024 bị cáo Phạm Quốc T có một chuỗi hành vi như gọi điện thoại trao đổi qua lại với bị cáo C3 và bị cáo Đ4 để hẹn nhau đá gà ăn thua bằng tiền, đề nghị bị cáo Đ cho mượn sân để đá gà, chuẩn bị cựa sắt, cân đồng hồ, băng keo; vẽ vòng tròn, làm trung gian để hai bên cân gà, thống nhất giá trị tiền cược và thu tiền xâu, bị cáo đã tổ chức cho 11 người đánh bạc với hình thức đá gà ăn thua bằng tiền với tổng số tiền cá cược là 17.800.000 đồng, trong đó đá ăn đồng 2.000.000 đồng gồm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ4 cược 1.500.000 đồng, bị cáo Phạm Quốc T cược 500.000 đồng; 2.000.000 đồng đá tỷ lệ 10 ăn 8 gồm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ4 cược 1.000.000 đồng, bị cáo Lê Quốc V cược 1.000.000 đồng; 6.000.000 đồng cược theo tỷ lệ 10 ăn 7 gồm: bị cáo Trần Quốc A cược 1.000.000 đồng, bị cáo Phạm Công L4 cược 1.000.000 đồng, bị cáo Trần Văn P1 cược 1.000.000 đồng, bị cáo Trần Văn L3 cược 1.000.000 đồng, bị cáo Lê Quốc V cược lần hai 1.000.000 đồng, bị cáo Trần Văn Đ cược 500.000 đồng và bị cáo Liêu Trung K 500.000 đồng. Bên gà của bị cáo Trương Chí T4 cược gồm T4 cược 9.000.000 đồng và bị cáo Lâm Tấn Đ1 cược 1.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc.
[3] Đối với bị cáo Trần Văn Đ, đã có hành vi sử dụng địa điểm do mình quản lý để cho bị cáo T tổ chức đánh bạc cho 11 người tham gia với số tiền 17.800.000 đồng và Đ còn trực tiếp tham gia đánh bạc, bị cáo cược số tiền 500.000 đồng theo tỷ lệ thắng, thua là 10 ăn 7 (thắng được 500.000 đồng, thua chung 350.000 đồng) cùng với bên gà của bị cáo Nguyễn Văn Đ4. Tại phiên tòa bị cáo Đ thừa nhận là nhận thức được địa bàn xã L thường xuyên có lực lượng chức năng kiểm tra gắt gao các loại tệ nạn xã hội, nhưng vì nể nang chỗ quen biết và do bị cáo T năn nỉ nhiều lần nên đã dùng sân nhà của mình để cho T tổ chức đá gà. Do đó hành vi của bị cáo Trần Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc.
[4] Các bị cáo Trương Chí T4, Lâm Tấn Đ1, Liêu Trung K, Lê Quốc V, Nguyễn Văn Đ4, Trần Văn P1, Trần Quốc A, Trần Văn L3 và Phạm Công L4 có hành vi tham gia đánh bạc do bị cáo T và bị cáo Đ tổ chức, với tổng số tiền cá cược là 17.800.000 đồng.
[5] Đối với bị cáo Thạch Quan T10, bị cáo T10 biết bị cáo T4 ôm gà đi xuống thị xã D để đi đá gà ăn thua bằng tiền và đồng ý đi cùng với T4; T10 chở T4 đi đến trường gà theo sự dẫn đường của bị cáo C3. Tại hiện trường T10 không có hành động can ngăn trái lại khi thấy bị cáo T4 trồng cựa, con gà của T4 giãy dụa T10 còn ôm gà giúp cho T4 dễ trồng cựa. Mặc dù T10 không nhận lợi ích gì từ Thiện và T10 không tham gia cược tiền nhưng hành vi của T10 đã giúp sức để bị cáo T4 tham gia trần gà với số tiền cược là 9.000.000 đồng. Do đó có đủ căn cứ xác định Thạch Quan T10 đồng phạm tội đánh bạc với bị cáo T4 và phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền 17.800.000 đồng.
[6] Đối với bị cáo Lê Quốc C3 là người đứng ra hẹn gà cho bị cáo T4 đá xổ 1.600.000 đồng với bị cáo T, C3 còn là người dẫn T4 và T10 đến địa điểm tổ chức đá gà, khi C3 nghe T4, Đ1 yêu cầu T nâng tiền cược lên thì C3 có nói với T "còn tiền không, nếu còn thì thêm vài triệu nữa hả thả gà", sau đó T ghi nhận tiền cá cược lên đến 10.000.000 đồng. Mặc dù C3 không nhận lợi ích gì từ Thiện và C3, không tham gia cược tiền nhưng vì C3 là người giúp sức tích cực cho bị cáo T4 hẹn gà, dẫn đường cho T4 vào nhà của Đ để đá gà, tác động vào việc cá cược của T4, do đó bị cáo C3 đồng phạm với bị cáo T4 về tội “Đánh bạc” và phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền 17.800.000 đồng.
[7] Đối với việc thay đổi một phần nội dung truy tố bị cáo Trần Văn Đ từ điểm b khoản 1 Điều 322 thành điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, trong vụ án này bị cáo Đ không có hành vi thỏa thuận thu tiền xâu về việc cho mượn sân để đá gà, nên bị cáo Đ chỉ đồng phạm với bị cáo T về tội tổ chức đánh bạc theo điểm a khoản 1 Điều 322, do đó đại diện Viện kiểm sát thay đổi một phần nội dung truy tố là phù hợp với các tình tiết trong vụ án và đúng quy định pháp luật.
[8] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ khẳng định Cáo trạng số 08/CT-VKS-HS ngày 03/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải đã truy tố các bị cáo trong vụ án này là đúng người, đúng tội và không bỏ lọt tội phạm.
[9] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên tất cả các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[10] Các bị cáo Thạch Quan T10, Trần Văn L3, Lâm Tấn Đ1, Nguyễn Văn Đ4, Liêu Trung K, Lê Quốc V, Trần Văn P1, Trần Quốc A, Phạm Công L4 và Lê Quốc C3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[11] Bị cáo Trần Văn Đ còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
[12] Ngoài ra, các bị cáo Lâm Tấn Đ1, Nguyễn Văn Đ4, Liêu Trung K, Lê Quốc V, Trần Văn P1, Trần Quốc A, Phạm Công L4, Lê Quốc C3, Trương Chí T4 và Trần Văn Đ có người thân trong gia đình là người có công với cách mạng, được nhà nước ghi nhận công lao, nên các bị cáo được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[13] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Quốc T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[14] Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo Phạm Quốc T cùng một thời điểm thực hiện hai hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo cũng thừa nhận là bị cáo thường xuyên làm biện gà (tổ chức cho người khác chơi đá gà ăn thua bằng tiền), bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật, chưa được xóa án tích mà vẫn tiếp tục tái phạm, hành vi tổ chức cho các đối tượng khác đánh bạc đã gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo về tội Tổ chức đánh bạc, nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[15] Tương tự đối với bị cáo Trần Văn Đ, Hội đồng xét xử cũng áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo về tội Tổ chức đánh bạc, tuy nhiên xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, trong đó có việc khi phạm tội bị cáo trong tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức, từ đó cũng có phần nào ảnh hưởng đến khả năng điều khiển hành vi, tại phiên tòa bị cáo T cũng thừa nhận là ban đầu bị cáo Đ đã từ chối nhiều lần, không cho T tổ chức đá gà, nhưng vì nể nang quen biết nên có nói là chỉ cho đá một trận thôi, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Đ có nhân thân tốt, đủ điều kiện được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự về hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, để giảm hình phạt cho bị cáo.
[16] Đối với bị cáo Trương Chí T4, trong vụ án này bị cáo T4 là người đầu tiên đề xuất việc đá gà, số tiền bị cáo T4 tham gia cược là lớn nhất (9.000.000 đồng), bị cáo có nhân thân xấu, có tiền sự về hành vi đánh bạc và từng bị kết án về tội cố ý làm hư hỏng tài sản, bị cáo không chịu sửa chữa lỗi lầm mà còn tiếp tục phạm tội, với hành vi đánh bạc lần này lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt chính là phạt tù, nhưng xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có người thân trong gia đình là người có công với cách mạng, được nhà nước ghi nhận công lao, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo là phạt tiền. Đối với các bị cáo khác phạm tội đánh bạc, hành vi nguy hiểm cho xã hội không lớn, căn cứ vào mức độ tính chất, số tiền dùng để đánh bạc của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử cũng quyết định áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, qua đó tự nhìn nhận lại bản thân, tránh lặp lại hành vi vi phạm.
[17] Về xử lý vật chứng: 01 cái cân đông hồ loại 5kg, hiệu Nhơn Hoà và số tiền 21.010.000 đồng hiện đang bị tạm giữ tại Kho bạc nhà nước là tiền và phương tiện dùng vào mục đích đánh bạc và tổ chức đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước; đối với 02 cây cựa sắt bằng kim loại đã qua sử dụng là phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.
[18] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[19] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử không có khiếu nại hoặc tố cáo đối với các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Đồng thời, các hoạt động thu thập chứng cứ đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc T và Trần Văn Đ phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”.
Các bị cáo Trương Chí T4, Lâm Tấn Đ1, Liêu Trung K, Lê Quốc V, Nguyễn Văn Đ4, Trần Văn P1, Trần Quốc A, Trần Văn L3, Phạm Công L4, Lê Quốc C3 và Thạch Quan T10 phạm tội “Đánh bạc”.
-
Về hình phạt:
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 35; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” và 01 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm a khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 35; Điều 38; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Chí T4 40.000.000 đồng.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn L3 25.000.000 đồng.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Lâm Tấn Đ1 25.000.000 đồng;
- - Xử phạt bị cáo Liêu Trung K 20.000.000 đồng;
- - Xử phạt bị cáo Lê Quốc V 30.000.000 đồng;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ4 35.000.000 đồng;
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn P1 20.000.000 đồng;
- - Xử phạt bị cáo Trần Quốc A 20.000.000 đồng;
- - Xử phạt bị cáo Phạm Công L4 20.000.000 đồng;
- - Xử phạt bị cáo Lê Quốc C3 20.000.000 đồng.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 99; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thạch Quan T10 20.000.000 đồng.
-
-
Xử lý vật chứng, căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cây cựa sắt bằng kim loại, màu trắng, hình lưỡi liềm đã qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 21.010.000 đồng theo Quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKS-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải và 01 (một) cái cân đông hồ loại 5kg, hiệu Nhơn Hoà, mặt trước cân có ghi dòng chữ “hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn” đã qua sử dụng.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Ngô Công Bình |
Nguyễn Văn Hùng |
Nguyễn Hữu Tài |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về đánh bạc và tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc
