1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 10/2025/HS-PT Ngày: 14 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu.
Ông Trần Minh Bắc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 174/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Xa T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Các bị cáo có kháng cáo:
-
Xa Trọng; sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Tổ A, ấp F, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Nhân viên điều hành xe tải; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Xa Văn T1; Mẹ: Trương Thị K; Vợ: Đinh Thị Lệ H (đã ly hôn) và con: không có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 30/4/2023 đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
-
Nguyễn Quốc D, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Trọng T2 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị N; Vợ: Thái Thị T3 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 30/4/2023 đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
-
Nguyễn T4, sinh năm 1995 tại tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: Tổ G, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn C; Mẹ: Trần Thị X; Vợ, con: không có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 30/4/2023 đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
-
Hồng Thị Như T5, sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Hồng Văn Q (đã chết); Mẹ: Trần Thị M; Chồng: Trần Văn T6 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 30/4/2023 đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
-
Trần Thị Bảo T7, sinh năm 2002 tại thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ; Nơi ở: Tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Văn L; Mẹ: Phan Kim Đ; Chồng, con: không có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 30/4/2023 đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
-
Phạm Dương Hồng T8, sinh ngày 21/01/2007 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở: Khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Phạm Văn N1 (đã chết); Mẹ: Dương Khoa Mai A; Chồng, con: không có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 30/4/2023 đến nay. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Những người tham gia tố tụng khác:
- - Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T8: Bà Dương Khoa Mai A, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
- - Người bào chữa cho bị cáo T8: Luật sư Lê Viết T9 – Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
- - Người bào chữa cho bị cáo T7: Luật sư Trần Đức H1 – Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc D, Xa T và Nguyễn T4 là bạn bè và đều là người nghiện ma túy tổng hợp. Vào khoảng 20 giờ ngày 23/4/2023, D, T và T4 ngồi nhậu với nhau ở Ấp D, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trong lúc đang ngồi nhậu, D nảy sinh ý định rủ T và T4 cùng góp tiền đến thuê phòng hát của quán K1 thuộc Tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để vừa hát vừa tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (bay lắc) thì được T4, T đồng ý và thống nhất chi phí tổ chức bay lắc sẽ chia đều cho cả ba. Do T quen biết Hồng Thị Như T5 là nhân viên phục vụ quán Karaoke và có sử dụng ma túy nên T đã gọi điện thoại thuê T5 đến cùng tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, T thỏa thuận trả cho T5 1.500.000 đồng thì T5 đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, D, T4 và T đến quán K1”, D gặp Trần Thị Bảo T7 là nhân viên phục vụ của quán K1 đặt một phòng nghe nhạc. Trần biết nhóm D đặt phòng nghe nhạc là để nhằm mục tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, T7 đồng ý và cho nhóm D thuê phòng “Vip 302”. T hỏi T7 có biết người bán ma túy không thì T7 trả lời không biết. Sau đó, T nói D và T4 lên nhận phòng trước còn T ở dưới quầy lễ tân tìm người để mua ma tuý. D và T4 đi lên phòng Vip 302 của quán thì gặp 01 tiếp viên nữ (chưa rõ nhân thân, lai lịch), D và T4 rủ nữ nhân viên này vào phòng số Vip 302 để cùng tham gia sử dụng trái phép chất ma túy thì nữ nhân viên này đồng ý. Trần biết nhóm của T sẽ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên đã xuống khu vực nhà bếp của quán lấy 01 đĩa sứ màu trắng và 01 bật lửa màu xanh mang lên đưa cho nhóm của D.
Đối với T, trong lúc tìm người mua ma túy thì T gặp Phạm Dương Hồng T8 là nhân viên của quán K1 đứng ở khu vực quầy lễ tân, T hỏi T8 có biết chỗ bán ma tuý không, mua giúp T 02 (hai) viên ma túy thuốc lắc và 3.000.000 đồng ma túy khay. Nghe T nói vậy, T8 nảy sinh ý định mua ma túy của người khác về bán lại cho T để thu lời nên T8 đã đồng ý. T đi lên phòng Vip 302 gặp D và T4 để gom tiền mua trái phép chất ma túy thì được T4 và D mỗi người góp 3.500.000 đồng. Góp tiền xong, T xuống quầy lễ tân gặp T8. Lúc này T8 liên hệ với một người đàn ông tên B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua trái phép của Bi 02 viên ma túy dạng thuốc lắc và 3.000.000 đồng tiền ma túy dạng khay và hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực quầy lễ tân của quán K1 thì được B đồng ý bán với tổng số tiền là 3.300.000 đồng, T8 nói T tiền mua ma túy hết 3.600.000 đồng, đồng thời nói T chuyển tiền vào số tài khoản 06836835252368 mang tên DUONG KHOA MAI ANH ngân hàng Q1 – M1 cho T8 thì T đồng ý chuyển khoản, nhận được tiền từ T thì T8 chuyển khoản cho B vào số tài khoản 5811.000.1088.800 mang tên PHAM CHANH TIN Ngân hàng TMCP Đ1 (B1) số tiền 3.300.000 đồng, T8 hưởng lợi 300.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến giao cho T8 01 gói giấy bên trong chứa 02 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy khay, T8 nhận ma túy rồi giao lại cho T. T cầm ma túy mang lên phòng Vip 302 đưa cho D, D mở gói ma túy ra lấy 02 viên ma túy thuốc lắc đưa cho T cùng T4 dùng cây gắp đá uống bia chia nhỏ 02 viên thuốc lắc ra thành 06 phần còn D lấy gói ma túy khay đổ vào đĩa sứ trắng dùng thẻ nhựa cà mịn ra rồi dùng bật lửa xào ma túy khay và D lấy ra 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng, cuộn tròn lại, dùng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá cố định lại để làm thành ống hút để làm dụng cụ sử dụng ma túy Khay.
Để có thêm người tham gia sử dụng trái phép chất ma túy, T nhờ T5 gọi thuê 01 tiếp viên nữ khác đến để tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng và sẽ trả công 1.500.000 đồng, T5 đồng ý và gọi điện rủ Huỳnh Thị Như H2 đến phòng Vip 302 của quán K1 để tham gia sử dụng trái phép chất ma túy với nhóm của T thì H2 đồng ý. Còn D gọi bạn là Lê Hữu T10 đến phòng V chơi cùng. Ngoài ra Nguyễn Kiều D1 là nhân viên phục vụ quán Karaoke thấy phòng D thiếu tiếp viên thì tự lên phòng Vip 302 để chơi cùng nhóm của D.
Tham gia sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 302 gồm có: Xa Trọng, Nguyễn Quốc D, Nguyễn T4, Hồng Thị Như T5, Huỳnh Thị Như H2 và nữ tiếp viên (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Riêng T10 và D1 ngồi uống bia và nghe nhạc, không tham gia sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi nhóm của T đang sử dụng trái phép ma túy khay tại phòng Vip 302 thì ông Nguyễn Huy C1 là chủ quán K1 vào phòng cúp cầu giao điện rồi hô “có Công an đến kiểm tra” sau đó ông C1 lấy chiếc 01 đĩa sứ màu trắng và 01 ống hút bằng tờ tiền là dụng cụ các bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy dạng khay bỏ vào túi quần còn nhóm của T vừa bỏ chạy ra đến cửa phòng thì bị Công an phường M phối hợp với công an thị xã phú M đến kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật gồm: 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong túi này có chứa chất bột mịn màu trắng trên bàn; 01 (một) bật lửa màu xanh; 01 (một) điện thoại di động màu vàng Gold, có dòng chữ iphone của Nguyễn Quốc D; 01 (một) điện thoại di động iphone màu xanh lam và 01 (một) điện thoại di động màu xanh, màn hình đen trắng, có dòng chữ N2 đã qua sử dụng của Nguyễn T4; 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xanh, đã qua sử dụng của Xa T; số tiền 1.100.000 đồng của Nguyễn T4 và số tiền 3.800.000 đồng của Xa T; thu giữ của Phạm Dương Hồng T8 01 (một) điện thoại di động mặt sau màu xanh tím, có dòng chữ VIVO, đã qua sử dụng. Ngoài ra, ông Nguyễn Huy C1 đã giao nộp 01 đĩa sứ màu trắng và 01 (một) ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền polymer mệnh giá 10.000₫ (Mười nghìn đồng) và được cố định bằng 02 (Hai) vỏ đầu lọc thuốc lá là dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy của nhóm D. Riêng Trần Thị Bảo T7 đến ngày 27/4/2023 đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên (BL:134-451).
Tại bản kết luận giám định số 164/KL-KTHS-MT ngày 04/5/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh B kết luận: Mẫu A gửi giám định có khối lượng 0,8491 gam, là ma tuý, loại Ketamine.
Tòa án cấp sơ thẩm đã 2 lần trả hồ sơ yêu cầu làm rõ trách nhiệm hình sự đối với hành vi của Nguyễn Huy C1, Trần Thị Mai T11 và Phạm Chánh T12 có liên quan trọng vụ án. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra tách hành vi của những người này cùng các tài liệu có liên quan trong vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 168/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Xa T, Nguyễn Quốc D, Nguyễn T4, Trần Thị Bảo T7, Hồng Thị Như T5 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Phạm Dương Hồng T8 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Xa T; Nguyễn Quốc D và Trần Thị Bảo T7, mỗi người 12 (Mười hai) năm tù;
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh 1 (Mười hai) năm tù; xử phạt bị cáo Hồng Thị Như T5 11 (Mười một) năm 06 (S) tháng tù.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Dương Hồng T8 05 (năm) năm tù.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Đồng thời kiến nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra truy tố xét xử lại mới bảo đảm nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự trong vụ án có đồng phạm.
Bản án sơ thẩm cho rằng việc cơ quan điều tra tách hành vi của Nguyễn Huy C1 ra điều tra xử lý sau dẫn đến việc không đánh giá đúng tính chất, mức độ tham gia, vai trò của từng người trong trong hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Từ đó dẫn đến việc xét xử vụ án không đảm bảo nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự trong vụ án có đồng phạm. Căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử, kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Ngày 27/9/2024, bị cáo Trần Thị Bảo T7 và Hồng Thị Như T5 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 01/10/2024, bị cáo Nguyễn T4, Xa T, Nguyễn Quốc D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 03/10/2024 bị cáo Phạm Dương Hồng T8 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Luật sư bào chữa cho bị cáo T8: Thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có hoàn cảnh gia đình khoa khăn, cha mẹ bị cáo ly hôn khi bị cáo còn nhỏ, bị cáo không nhận được sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của cả cha, mẹ; không được ăn học đầy đủ, chưa đủ 18 tuổi nhưng đã phải tự lo cuộc sống của bản thân nên nên mới vi phạm pháp luật; hiện cha bị cáo cũng mới mất. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử dưới mức mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo.
- - Luật sư bào chữa cho bị cáo T7: Thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bổ sung thêm xác nhận có hoàn cảnh gia đình khó khăn; ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do Kiểm sát viên đề nghị, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo T7 mức án 18 tháng tù.
- - Các bị cáo T7 và T8 thống nhất lời bào chữa của Luật sư, không bổ sung gì thêm, xin được giảm nhẹ hình phạt.
- - Các bị cáo T, D, T4, T5 không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- + Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- + Về nội dung: Cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Xa T 12 (mười hai) năm tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc D 12 (mười hai) năm tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh 1 (mười hai) năm tù, xử phạt bị cáo Hồng Thị Như T5 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, xử phạt bị cáo Trần Thị Bảo T7 12 (mười hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tuyên phạt bị cáo Phạm Dương Hồng T8 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là phù hợp.
Trong đơn kháng cáo, bị cáo không cung cấp được các tình tiết mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Xét kiến nghị của TAND thị xã Phú Mỹ: Việc tách hành vi của Nguyễn Huy C1 ra điều tra xử lý sau dẫn đến việc không đánh giá đúng tính chất, mức độ tham gia, vai trò của từng người trong trong hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Từ đó dẫn đến việc xét xử vụ án không đảm bảo nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự trong vụ án có đồng phạm.
Trong quá trình điều tra, truy tố ở cấp sơ thẩm, do chưa đủ căn cứ để khởi tố ông Nguyễn Huy C1 đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, để đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án, nên cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã tách hành vi của Nguyễn Huy C1 ra điều tra xử lý sau là hoàn toàn phù hợp. Hiện nay, Cơ quan điều tra thị xã P đã khởi tố ông Nguyễn Huy C1 để tiếp tục điều tra về hành vi tổ chức sử dụng trai phép chất ma túy. Xét thấy không cần thiết phải hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại vụ án đối với các bị cáo nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các bản kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm nên đủ cơ sở xác định:
Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 23/4/2023, tại Karaoke H thuộc Tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phạm Dương Hồng T8 (nhân viên quán K1) đã có hành vi bán trái phép 02 viên ma túy dạng thuốc lắc và 01 gói ma túy khay giá 3.600.000 đồng cho Xa T, Nguyễn Quốc D, Nguyễn T4.
Sau khi mua được ma tuý, Xa T cùng Nguyễn Quốc D, Nguyễn T4 có hành vi rủ Hồng Thị Như T5 và nhờ T5 rủ Huỳnh Thị Như H2 cùng tham gia sử dụng trái phép ma túy; đối với Trần Thị Bảo T7 (nhân viên quán K1) biết nhóm Xa T sử dụng ma túy và đã tự ý cung cấp đĩa, bật lửa và thẻ cà ma túy là công cụ để sử dụng ma túy. Khi cả nhóm đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 302 của quán K1 thì bị phát hiện bắt quả tang cùng chứng cứ có liên quan. Thu giữ 0,8491 gam chất ma tuý, loại Ketamine.
Như vậy có đủ căn cứ kết luận hành vi của Xa T cùng Nguyễn Quốc D, Nguyễn T4, Hồng Thị Như T5 và Trần Thị Bảo T7 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; hành vi của Phạm Dương Hồng T8 phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo với các tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, căn cứ lời khai của Trần Thị Bảo T7 tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, thì bị cáo là tiếp viên phục vụ quán K1, quá trình làm việc tại đây, Nguyễn Huy C1 chỉ đạo khi có khách thì chuẩn bị phòng hát dành cho khách sử dụng ma tuý, các dụng cụ sử dụng ma tuý cho khách (đĩa, hộp quẹt, thẻ để cà ma tuý). Như vậy, hành vi của Nguyễn Huy C1 có dấu hiệu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, nhưng chưa được cấp sơ thẩm điều tra đối chất để làm rõ hành vi của Nguyễn Huy C1.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ngày 17/12/2024 Cơ quan điều tra Công an thị xã P ra Quyết định khởi tố vụ án số 220/QĐ-ĐTTH và Quyết định khởi tố bị can số 345/QĐ-ĐTTH đối với Nguyễn Huy C1 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xét thấy, việc cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Huy C1 là tình tiết mới của vụ án và cần thiết phải xét xử các bị cáo trong cùng vụ án có đồng phạm mới đánh giá hết tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Do đó, căn cứ điểm c Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án theo quy định pháp luật.
[3] Kiến nghị của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2024/HS-ST ngày 26 ngày 9 tháng 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để tiến hành điều tra lại vụ án theo quy định pháp luật.
- Án phí: Các bị cáo Xa T, Nguyễn Quốc D, Nguyễn T4, Trần Thị Bảo T7, Hồng Thị Như T5 và Phạm Dương Hồng T8 không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trí Thức |
Bản án số 10/2025/HS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 10/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xa Trọng (6bc) - Toổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
