|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Định và bà Vũ Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Dàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1981.
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai (có mặt).
- Bị đơn: Ông Hồ Văn S, sinh năm: 1976.
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai (vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Hồ Văn S tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 30/7/2003 tại UBND xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, có những bất đồng về quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung. Nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc và không thể kéo dài thêm nên bà Nguyễn Thị Ngọc D đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Văn S.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Hồ Văn S có 03 con chung Hồ Văn S1, sinh ngày: 20/9/2002; Hồ Văn L, 13/3/2004; Hồ Huyền T, sinh năm: 02/4/2018, đối với 02 cháu Hồ Văn S1; Hồ Văn L đều đã trưởng thành và tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, hiện nay cháu Hồ Huyền T đang ở với bà Nguyễn Thị Ngọc D tại thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. Bà Nguyễn Thị Ngọc D đề nghị sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi cháu Hồ Huyền T, không yêu cầu ông Hồ Văn S phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc D xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc D xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Hồ Văn S đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng trong quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt không có lý do tại các phiên hòa giải cũng như phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Hồ Văn S kết hôn vào ngày 30/7/2003 có đăng ký theo quy định pháp luật. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số 028 do UBND xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai cấp ngày 30/7/2003 mà nguyên đơn đã giao nộp. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Quá trình thụ lý vụ án xác định ông Hồ Văn S cư trú tại thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vì vậy Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
[2] Bị đơn ông Hồ Văn S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về mâu thuẫn gia đình: Theo trình bày của đương sự và tài liệu và xác nhận tại địa phương, nhận thấy trong quá trình chung sống, ông bà có phát sinh mâu thuẫn. Đối với ông Hồ Văn S, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, tuy nhiên ông vẫn không đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa, điều đó chứng tỏ ông không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm gia đình. Qua các phiên hòa giải, mặc dù đã được Tòa án động viên đoàn tụ tiếp tục duy trì xây dựng gia đình nhưng nguyên đơn vẫn cương quyết xin ly hôn. Như vậy Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa ông bà đã thực sự rạn nứt, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Ngọc D được ly hôn với ông Hồ Văn S theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc D và ông Hồ Văn S có 03 con chung Hồ Văn S1, sinh ngày: 20/9/2002; Hồ Văn L, 13/3/2004; Hồ Huyền T, sinh năm: 02/4/2018, đối với 02 cháu Hồ Văn S1; Hồ Văn L xét thấy hai con chung đã trưởng thành và tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Bà Nguyễn Thị Ngọc D yêu cầu nuôi cháu Hồ Huyền T, không yêu cầu ông Hồ Văn S cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc D, giao cháu Hồ Huyền T cho bà Nguyễn Thị Ngọc D nuôi dưỡng, ông Hồ Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc D xác định vợ chồng bà không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc D xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ngọc D được ly hôn với ông Hồ Văn S.
- Về con chung: Giao cháu Hồ Huyền T, sinh ngày: 02/4/2018 cho bà Nguyễn Thị Ngọc D trực tiếp nuôi dưỡng, khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0012663 ngày 24/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà Nguyễn Thị Ngọc D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/6/2025), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Tiến |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi co
