|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29/12/2025
V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng.
2. Ông Trần Gia Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/12/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hồng T, sinh năm 1996.
Nơi ĐKHKTT: Khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Số D, đoạn C, đường Đ, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc).
Đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng: Công ty L1 và cộng sự (Địa chỉ: Số B ngõ D D, phường P, thành phố Hà Nội). Cán bộ được phân công thực hiện công việc theo ủy quyền: Ông Trần Dương Hải Đ, sinh năm 2001 (Địa chỉ: 2 Bà T, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn).
Bị đơn: Anh Hoàng Minh T1, sinh năm 1992.
Nơi ĐKHKTT: Khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Tổ T, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã C, tỉnh Tuyên Quang).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vợ chồng ông Hoàng Hồng M, sinh năm 1962 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1964.
Đều có địa chỉ: Khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ.
(Các đương sự đều xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Thị Hồng T trình bày: Chị và anh Hoàng Minh T1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 11/3/2015 tại UBND thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã C, tỉnh Tuyên Quang). Trong quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian. Về sau, do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan (Trung Quốc). Kể từ thời điểm đó, vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không thể hoà hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm không còn như ban đầu. Hơn nữa, khoảng cách địa lý xa xôi gây khó khăn cho cả hai bên khi giải quyết công việc gia đình, khiến cuộc sống hôn nhân vợ chồng bế tắc, không có cách nào giải quyết. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn cũng như được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, điều này làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng và con cái. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh Hoàng Minh T1.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là Hoàng Khánh M1, sinh ngày 07/08/2015 và Hoàng Anh T2, sinh ngày 16/07/2020. Hiện nay các cháu đang ở cùng bố mẹ đẻ chị là ông Hoàng Hồng M, sinh năm 1962 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1964 tại địa chỉ: Khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung. Do hiện tại chị đang ở Đài Loan nên chị đề nghị Tòa án tạm giao hai cháu cho bố mẹ đẻ chị là ông M và bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị về nước.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị yêu cầu anh Hoàng Minh T1 cấp dưỡng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/tháng/con cho đến khi các cháu thành niên. Trong trường hợp anh Hoàng Minh T1 không đồng ý với mức cấp dưỡng nêu trên, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Hoàng Minh T1 trình bày: Anh và chị Hoàng Thị Hồng T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 11/3/2015 tại UBND thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã C, tỉnh Tuyên Quang). Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2023 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống được nữa nên cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là Hoàng Khánh M1, sinh ngày 07/08/2015 và Hoàng Anh T2, sinh ngày 16/07/2020. Từ khi vợ chồng ly thân hai con chung vẫn ở cùng ông bà ngoại (chị T đang sống và làm việc tại Đài Loan, còn anh sống tại nhà bố mẹ đẻ ở tổ T, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang nay là xã C, tỉnh Tuyên Quang). Tại bản tự khai ngày 27/11/2025 anh xin được nuôi cháu M1, để chị T nuôi cháu T2, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Tuy nhiên, sau đó anh thay đổi quan điểm đồng ý để chị T nuôi cả hai con chung và sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi cháu một tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng), tổng hai cháu là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)/tháng (do bận công việc không trực tiếp đến Tòa án để thay đổi quan điểm được nên việc thay đổi quan điểm của anh T1 được thể hiện với Tòa án thông qua tài khoản Zalo "Hoàng Minh T1").
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Toà án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Hồng M và bà Vũ Thị L trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ của chị Hoàng Thị Hồng T và là bố mẹ vợ của anh Hoàng Minh T1. Chị T và anh T1 có với nhau hai người con chung là cháu Hoàng Khánh M1, sinh ngày 07/08/2015 và Hoàng Anh T2, sinh ngày 16/07/2020. Từ năm 2016 đến nay, cả hai cháu M1 và T2 sống cùng ông bà tại Khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ và được ông bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Nay Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị T và anh T1, chị T có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con chung. Do hiện tại chị T đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài nên chị T có đề nghị Tòa án tạm giao hai cháu cho ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị về nước, quan điểm của ông bà là hoàn toàn đồng ý và không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa ngày 29/12/2025: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Hồng T, bị đơn anh Hoàng Minh T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Hồng M, bà Vũ Thị L đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin vắng mặt chị T, anh T1, ông M, bà L vẫn giữ nguyên quan điểm tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 55, điều 58, điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị Hồng T và anh Hoàng Minh T1.
Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Chị Hoàng Thị Hồng T trực tiếp tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Khánh M1 sinh ngày 07/8/2015 và Hoàng Anh Thư S ngày 16/7/2020 đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Anh T1 cấp dưỡng 02 con chung là 2.000.000đ/tháng/cháu, tổng là 4.000.000đ/tháng/02 cháu.
Tạm giao 02 cháu Hoàng Khánh M1 sinh ngày 07/8/2015 và Hoàng Anh Thư S ngày 16/7/2020 cho ông Hoàng Hồng M và bà Vũ Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu cho đến khi chị T trở về nước.
Anh T1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền này.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Thực hiện theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là anh Hoàng Minh T1. Chị T và anh T1 đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy chị T đang sinh sống, làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc). Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 , Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Hoàng Thị Hồng T hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc) đã có văn bản ủy quyền cho Công ty L1 và cộng sự thay chị nộp, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án, cán bộ của Công ty đã giao nộp cho Tòa án đơn khởi kiện, bản tự khai, giấy ủy quyền và các tài liệu chứng cứ liên quan (đều có chứng thực của Văn phòng K tại Đ). Quá trình giải quyết vụ án, chị T3 đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án; anh T1 đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hoà giải được mà chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Nguyên đơn chị Hoàng Thị Hồng T, bị đơn anh Hoàng Minh T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Hồng M, bà Vũ Thị L vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ nên căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Hồng T và anh Hoàng Minh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã C, tỉnh Tuyên Quang) ngày 11/3/2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo chị T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, không có tiếng nói chung. Về phía anh T1 cũng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và hiện đã sống ly thân. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn cũng như được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Do vợ chồng sống xa nhau khiến cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng bế tắc, không có cách giải quyết.
Tòa án xác minh tại UBND phường P được chính quyền địa phương cung cấp: Chị Hoàng Thị Hồng T và anh Hoàng Minh T1 có đăng ký kết hôn ngày 11/3/2015 UBND thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã C, tỉnh Tuyên Quang). Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T anh T1 sống tại khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh T1 có phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hiện đã sống ly thân. Vợ chồng chị T, anh T1 có hai con chung là Hoàng Khánh M1, sinh ngày 07/08/2015 và Hoàng Anh T2, sinh ngày 16/07/2020. Hiện chị T đang đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, hai con chung của anh chị hiện đang ở cùng bố mẹ đẻ chị T tại khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ. Anh T1 vẫn đi lại, thăm nom các con.
Tại phiên tòa hôm nay mặc dù chị T và anh T1 vắng mặt nhưng đã có quan điểm thể hiện tại Bản tự khai là đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xử cho chị T được ly hôn với anh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị Hoàng Thị Hồng T và anh Hoàng Minh T1 xác định vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Khánh M1, sinh ngày 07/08/2015 và Hoàng Anh T2, sinh ngày 16/07/2020. Nếu ly hôn đặt ra chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung và yêu cầu anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi cháu một tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi thành niên. Hiện chị T đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài nên chị T đề nghị Tòa án tạm giao hai con chung cho bố mẹ đẻ chị là ông Hoàng Hồng M, bà Vũ Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị về nước. Anh T1 cũng nhất trí khi ly hôn giao hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và cấp dưỡng nuôi con chung như chị T yêu cầu. Tại Bản tự khai cháu M1 có nguyện vọng muốn ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Ông M, bà L là bố mẹ đẻ chị T nhất trí trực tiếp chăm sóc cháu M1 và cháu T2 trong thời gian chị T ở nước ngoài.
Xét thấy đây là sự tự nguyện của các bên, phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật. Mặt khác, trong thời gian chị T làm việc tại nước ngoài cả hai cháu đều do ông Hoàng Hồng M, bà Vũ Thị L là bố mẹ đẻ chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và các cháu đều đảm bảo phát triển về mọi mặt từ thể chất đến tinh thần. Do đó, cần giao cháu M1 và cháu T2 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; tạm giao cháu M1 và cháu T2 cho ông M, bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị T về Việt Nam; anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi cháu một tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng), tổng hai cháu là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)/tháng kể từ tháng 01/2026 cho đến khi các cháu thành niên.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh T1 không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Hoàng Thị Hồng T phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Minh T1 phải chịu tiền án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 117, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 469, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5 Nghị quyết 01/2025/UBTVQH ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về TVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Hồng T được ly hôn anh Hoàng Minh T1.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Khánh M1, sinh ngày 07/08/2015 và Hoàng Anh T2, sinh ngày 16/07/2020 cho chị Hoàng Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung thành niên. Hiện chị Hoàng Thị Hồng T đang ở nước ngoài, tạm giao cháu Hoàng Khánh M1 và Hoàng Anh T2 cho ông Hoàng Hồng M và bà Vũ Thị L (bố mẹ đẻ chị T) trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi chị T về Việt Nam.
Anh Hoàng Minh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hoàng Thị Hồng T 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng/cháu, tổng hai cháu là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)/tháng kể từ tháng 01/2026 cho đến khi các cháu thành niên. Phương thức cấp dưỡng: Cấp dưỡng hàng tháng.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004756 ngày 04/11/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Anh Hoàng Minh T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Anh Hoàng Minh T1, ông Hoàng Hồng M, bà Vũ Thị L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm. Chị Hoàng Thị Hồng T cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 2 - Phú Thọ; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Phú Thọ; - UBND xã Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang; (ĐKKH năm 2015 tại UBND thị trấn Vĩnh Lộc cũ) - Các đương sự; - Lưu HS-VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hà Thu |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
