TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY T P HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ – ST
Ngày 28 tháng 02 năm 2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Quốc Huy.
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa.
- Bà Trần Thị Huệ.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 131/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024, về việc hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 và QĐ hoãn phiên tòa số 02 ngày 18/2/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đỗ Xuân L, sinh năm 1986; (Có mặt);
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1993; (Vắng mặt)
Cùng ĐKHKTT: Thôn L, xã X, thị xã S, TP .;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Đỗ Xuân L trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Kim Y đăng ký kết hôn ngày 28/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã X, thị xã S, TP . qua tự do tìm hiểu theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại địa chỉ thôn L, xã X, thị xã S, TP ..Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không hợp tính cách dẫn đến thường xuyên xô xát, cãi nhau. Từ năm 2022 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân. Nay anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Y.
- + Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Gia H, sinh ngày 15/7/2013 và cháu Đỗ Tú L1, sinh ngày 06/11/2018. Hiện hai cháu đang ở với bố. Sau khi ly hôn anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung, công sức chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về công nợ chung: Anh L xác định không có.
- - Về án phí: Anh L tự nguyện chịu án phí ly hôn, theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Kim Y theo địa chỉ gia đình tại thôn L, xã X, thị xã S, TP. Hà Nội, tuy nhiên chị Y không có văn bản trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến Tòa án làm việc, hòa giải.
Tòa án cũng tiến hành xác minh với chính quyền địa phương và gia đình chị Y tại thôn L, xã X, thị xã S, TP .. Tại Biên bản xác minh ngày 07/02/2025, đại diện chính quyền thôn L và gia đình chị Y cho biết: Anh Đỗ Xuân L và chị Nguyễn Thị Kim Y có đăng ký kết hôn ngày 28/12/2012 tại UBND xã X, thị xã S, TP .. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, từ đó đến nay anh chị sống ly thân. Việc ly hôn là việc riêng của anh chị nhưng gia đình có nguyện vọng mong muốn anh chị đoàn tụ. Anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Gia H, sinh ngày 15/7/2013 và cháu Đỗ Tú L1, sinh ngày 06/11/2018. Hiện hai cháu đang ở với anh L. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung của anh chị gia đình không được biết. Nay anh L có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với chị Y, đây là việc riêng của anh chị, đại diện chính quyền địa phương và gia đình đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án cũng tiến hành lấy ý kiến của cháu Nguyễn Gia H1, tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/12/2024, cháu H1 trình bày nguyện vọng mong muốn bố mẹ đoàn tụ, hiện hai anh em cháu đang được bố chăm sóc hàng ngày, còn mẹ cháu vẫn liên lạc về hỏi thăm cháu qua ông bà ngoại.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do chị Y không đến Tòa án làm việc nên anh L đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đúng như lời khai và biên bản xác minh.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- + Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đỗ Xuân L được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim Y. Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đỗ Gia H, sinh ngày 15/7/2013 và cháu Đỗ Tú L1, sinh ngày 06/11/2018. Giao cả hai con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị Kim Y đến khi có quyết định, thay đổi khác. Chị Y có quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau khi ly hôn không ai được ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Đề nghị Tòa án không xem xét. Anh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;
[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, bị đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị Kim Y có nơi cư trú và đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã X, thị xã S, TP . nên theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết tại Tòa án đã tiến hành hòa giải, ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn. Ngày 18/02/2025, Tòa án đã mở phiên tòa, nguyên đơn có mặt bị đơn có đơn vắng mặt, lần thứ nhất không có lý do nên Tòa án căn cứ điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 28/02/2025 và tống đạt, thông báo hợp lệ đến các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án căn cứ các điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Xuân L và chị Nguyễn Thị Kim Y kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị Y là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống anh L và chị Y có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Y, chị Y không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến bằng văn bản về yêu cầu ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa anh L và chị Y là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị Y không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, không nêu quan điểm về việc giải quyết quan hệ hôn nhân, không đưa ra được phương án cụ thể khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đỗ Xuân L, xử cho anh L được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim Y.
[3] Về con chung: Anh Đỗ Xuân L và chị Nguyễn Thị Kim Y có 02 con chung là cháu Đỗ Gia H, sinh ngày 15/7/2013 và cháu Đỗ Tú L1, sinh ngày 06/11/2018. Hiện hai cháu đang ở cùng với anh L. Anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn. Chị Y không trình bày quan điểm về việc nuôi dưỡng cả hai con chung sau khi ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh L là chính đáng. Hiện cháu H và cháu L1 đang sinh sống, học tập ổn định cùng với anh L, chị Y không trình bày nguyện vọng, quan điểm gì về việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn nên việc giao cả hai con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của các con chung cũng như phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Do anh Đỗ Xuân L không yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim Y cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Y cho đến khi có yêu cầu mới. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Kim Y được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
[4] Về tài sản chung, công sức chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Y không trình bày quan điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Nợ chung: Anh L trình bày không có, chị Y không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Anh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 6, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đỗ Xuân L, anh Đỗ Xuân L được ly hôn chị Nguyễn Thị Kim Y.
- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đỗ Gia H, sinh ngày 15/7/2013 và cháu Đỗ Tú L1, sinh ngày 06/11/2018. Giao cháu Đỗ Gia H và cháu Đỗ Tú L1 cho anh Đỗ Xuân L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu H và cháu L1 đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung : Không có.
- Về án phí: Anh Đỗ Xuân L phải chịu toàn bộ 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Đỗ Xuân L đã nộp theo Biên lai số: 00001051 ngày 09/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP ..
- Quyền kháng cáo: anh Đỗ Xuân L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Kim Y được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây được quyền kháng nghị theo quy định.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị Kim Y đến khi có đơn yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
Chị Nguyễn Thị Kim Y được quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Quốc Huy |
Bản án số 10/2025/HNGĐ – ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
