Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/3/2025

V/v: "Tranh chấp ly hôn

và nuôi con".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và ông Phạm Hữu Ái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 238/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST- HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ái D, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Kiều Thiên L, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ái D trình bày: Giữa bà Nguyễn Thị Ái D và ông Kiều Thiên L tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H vào ngày 26/01/2015. Trong quá trình chung sống thì giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, thường xuyên cải nhau do bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân là do ông L còn ham chơi, đua đòi, không lo làm ăn. Mặc dù bà D đã khuyên nhiều lần nhưng ông L không thay đổi, thậm chí đánh đập bà D. Đến năm 2019, ông L tự ý lấy xe cung của vợ chồng rồi bỏ đi nên vợ chồng sống ly thân. Nay bà D nhận thấy không thể sống chung với ông L được nữa nên bà D yêu cầu Tòa án giải quyết, cho bà Nguyễn Thị Ái D được ly hôn với ông Kiều Thiên L.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng có 01 con chung là cháu Kiều Thiên L1, sinh ngày 21/01/2016. Khi ly hôn, bà D có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Kiều Thiên L1, sinh ngày 21/01/2016 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ái D tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Bị đơn là ông Kiều Thiên L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến và cũng không tham gia phiên tòa.

Đại diện VKSND huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Đối với đương sự thì nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn là ông Kiều Thiên L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng giữa bà Nguyễn Thị Ái D và ông Kiều Thiên L tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H vào ngày 26/01/2015. Trong quá trình chung sống thì giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, thường xuyên cải nhau do bất đồng quan điểm. Nguyên nhân là do ông L còn ham chơi, đua đòi, không lo làm ăn. Mặc dù bà D đã khuyên nhiều lần nhưng ông L không thay đổi, thậm chí đánh đập bà D. Đến năm 2019, ông L bỏ đi nên vợ chồng đã sống ly thân. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Giao cháu Kiều Thiên L1, sinh ngày 21/01/2016 cho bà Nguyễn Thị Ái D chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;

  1. [1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp ly hôn và nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.

  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do; Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa bà Nguyễn Thị Ái D và ông Kiều Thiên L tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H vào ngày 26/01/2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với lời trình bày của nguyên đơn, đã xác định: Trong thời gian chung sống thì giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, thường xuyên cải nhau do bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân là do ông L còn ham chơi, đua đòi, không lo làm ăn. Đến năm 2019, ông L bỏ đi nên vợ chồng đã sống ly thân. Do đó, bà Nguyễn Thị Ái D đề nghị Tòa án giải quyết cho bà D được ly hôn với ông Kiều Thiên L là có cơ sở để chấp nhận. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Kiều Thiên L không trình bày ý kiến và cũng không tham gia tố tụng nên không có cơ sở để xem xét ý kiến, nguyện vọng của bị đơn. Đồng thời, hành vi này cũng thể hiện ý chí của bị đơn về việc không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ái D và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

  4. [4]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về nguyện vọng nuôi con chung: Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/02/2025, cháu Kiều Thiên L1, sinh ngày 21/01/2016 trình bày nguyện vọng ở với mẹ (bà D). Do đó, cần thiết giao cháu Kiều Thiên L1 cho bà Nguyễn Thị Ái D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị Ái D không yêu cầu ông Kiều Thiên L cấp dưỡng nuôi con. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

  5. [5]. Về chia tài sản và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  6. [6]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ái D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

-Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ái D được ly hôn với ông Kiều Thiên L.

    Về con: Giao cháu Kiều Thiên L1, sinh ngày 21/01/2016 cho bà Nguyễn Thị Ái D chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.

    Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu xem xét, giải quyết.

  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ái D phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0010991 ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

  3. Án xử công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Hàm Tân;
  • -THA dân sự huyện Hàm Tân;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Đình Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ái Diễm được ly hôn với ông Kiều Thiên Long. Về con: Giao cháu Kiều Thiên Lân, sinh ngày 21/01/2016 cho bà Nguyễn Thị Ái Diễm chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông Long không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger