Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 25-6-2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Thế Căn
  2. Bà Lê Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố M, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2025/TLST-HNGĐ, ngày 25/3/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa:

  1. Nguyên đơn: chị Tạ Thị Cải X, sinh năm 1983.
  2. Bị đơn: anh Phạm Thanh H, sinh năm 1981.

Đều cư trú tại: khu F, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Tạ Thị Cải X trình bày: chị và anh Phạm Thanh H đăng ký kết hôn với nhau năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 2 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H không quan tâm đến vợ con, thường xuyên uống rượu, không chịu làm ăn lo cho kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đến tháng 12/2024 chị X đã dọn ra ngoài ở, anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn sự quan tâm Nay chị X đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H.

Về con chung: chị X và anh Hiếu sinh được 03 con chung là Phạm Thanh T, sinh ngày 07/02/2010; Phạm Thanh T1, sinh ngày 10/7/2011 và Phạm Thanh T2, sinh ngày 11/11/2019. Chị X đề nghị được nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và khoảng nợ chung: không có

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm các giấy tờ liên quan đến nhân thân của các đương sự, con chung.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập anh H đến Tòa án để cung cấp lời khai, để tham gia phiên họp, hòa giải nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, không gửi ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị X và cũng không cung cấp chứng cứ, tài liệu gì.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tuân thủ việc triệu tập vi phạm khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan điểm về việc giải quyết vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị X được ly hôn với anh H

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: theo đơn yêu cầu giải quyết ly hôn của chị X, vụ án thuộc quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố M, nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sư.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không có đơn xin xét xử vắng mặt, không có người đại diện, theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: cuộc hôn nhân của chị X và anh H được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, do vậy cuộc hôn nhân của chị X và anh H là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H không quan tâm đến vợ con, không chịu làm ăn lo cho kinh tế gia đình, vợ chồng không do không hòa giải được nên đã sống ly thân nhau từ nhiều tháng nay, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng chị X và anh H kéo dài trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa, nên chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của chị X đối với anh H

[3.2] Về con chung: căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định chị X và anh H có 03 con chung như lời khai của chị X trình bày. Xét yêu cầu của chị X được nuôi cả 03 con chung. Hội đồng xét xử thấy, quá trình giải quyết vụ án anh H không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi con chung, nguyện vọng của các cháu muống được ở với mẹ, do vậy chấp nhận yêu cầu của chị X về việc nuôi con chung, giao 03 con chung cho chị X chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung đến tuổi thành niên. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi các con chung.

[4] Về tài sản chung và khoản nợ chung: không có.

[5] Về án phí: chị X chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị C Xuyến về việc ly hôn và nuôi con chung

Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Tạ Thị C Xuyến được ly hôn anh Phạm Thanh H.

Về con chung: giao 03 con chung là Phạm Thanh T, sinh ngày 07/02/2010; Phạm Thanh T1, sinh ngày 10/7/2011 và Phạm Thanh T2, sinh ngày 11/11/2019 cho chị Tạ Thị C Xuyến trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, giáo dục các con chung đến tuổi thành niên (đủ tuổi 18 tuổi). Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Nguyên đơn chị Tạ Thị Cải X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002363 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái.

- Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh QN, TP MC;
  • - Chi cục THA Dân sự;
  • - UBND phường Hải Yên
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ - ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử cho chị Tạ Thị Cải Xuyến được ly hôn anh Phạm Thanh Hiếu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger