|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/01/2025 “V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Như Toản – bà Hồ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Phương Thanh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia
phiên tòa: bà Đoàn Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: số: 280/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Dương Thị T, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ F, khu C, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Bị đơn: anh Nguyễn Thành S, sinh năm 1979; nơi cư trú: tổ F, khu C, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Thị T trình bày:
- Về tình cảm: chị T và anh Nguyễn Thành S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 27/6/2008 tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh S thường xuyên ngược đãi tinh thần chị Thư từ trong những sinh hoạt nhỏ hàng ngày như có lời lẽ chửi bới, xúc phạm, đe doạ chị T. Cư xử trên của anh S làm cho cuộc sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa, căng thẳng, mệt mỏi. Hơn thế, mấy năm trở về trước anh S còn đánh đập chị T. Thực trạng mâu thuẫn như trên kéo dài suốt từ năm 2014 đến nay, làm cho cuộc sống giữa vợ chồng không còn sự yêu thương, quý trọng tin tưởng vào nhau, không tìm được tiếng nói chung. Tuy nhiên, vì các con chị T vẫn cố gắng duy trì cuộc sống gia đình,
nhưng đến nay chị T không thể chịu đựng hơn được nữa vì anh S tính tình không những không thay đổi mà còn ngày càng có cư xử thậm tệ với chị T hơn lúc trước như lên mạng xã hội làm ảnh hưởng đến uy tín của chị T, de doạ xâm phạm đến sức khoẻ của chị T và tung tin chị T có quan hệ ngoại tình ở nơi làm việc của chị T nhằm làm ảnh hưởng đến danh dự của chị T. Cư xử trên của anh S đã làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của chị T với tư cách là thành viên trong gia đình. Nay chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T ly hôn anh Nguyễn Thành S.
- Về con chung: anh, chị có 02 con chung: Nguyễn Tiến D, sinh ngày 16/5/2009 và Nguyễn Yến V, sinh ngày 12/7/2012. Quá trình giải quyết vụ án, chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Yến V, còn anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tiến D cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên toà, chị T thay đổi quan điểm đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tiến D, còn anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Yến V.
- Về tài sản và khoản nợ chung: anh, chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
[2] Bị đơn anh Nguyễn Thành S trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà trình bày:
- Về tình cảm: xác nhận về việc kết hôn, chung sống như chị T trình bày ở trên là đúng. Về mâu thuẫn vợ chồng: quá trình chung sống vợ chồng vẫn hòa thuận như bao gia đình khác, chỉ có việc chị T trong phương pháp giáo dục con chung chưa phù hợp làm cho cuộc sống thường căng thẳng. Trước sự việc này thì anh S thường hay phản ứng lại với chị T dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát cãi vã nhau. Trong lúc nóng giận anh S cũng nhiều lần xúc phạm chị T, thực trạng vợ chồng như trên cũng kéo dài nhiều năm. Trước đây cũng có vài lần anh S đánh đập chị T nhưng sau này việc đó không xảy ra nữa. Anh S thừa nhận tài liệu có nội dung tin nhắn chị T giao nộp cho Tòa án kèm theo đơn khởi kiện là do chính anh S nhắn cho chị T. Ngoài ra, anh S thừa nhận có bình luận nội dung thiếu lành mạnh về chị T trên mạng xã hội và cũng có nói với nhiều người về việc chị T có quan hệ ngoại tình. Việc anh S khai chị T có quan hệ ngoại tình là do anh S thấy chị T thường xuyên vắng mặt ở nhà, ngoài ra không có căn cứ nào khác. Anh S thừa nhận chị T là người thu vén, có trách nhiệm với gia đình và có công việc, thu nhập ổn định, chăm lo cho con cái. Nay anh S vẫn còn tình cảm với chị T, đề nghị Tòa án hoà giải để vợ chồng đoàn tụ. Ngoài ra, anh S cho rằng biên bản xác minh ngày 20/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long có nội dung về thực trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh, chị không đúng sự thật.
- Về con chung: anh, chị có 02 con chung; tên, tuổi con chung như chị T trình bày nêu trên là đúng. Nếu trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn anh S đề nghị được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi các con
chung thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con với anh S.
- Về tài sản, khoản nợ chung: anh, chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
[3] Tại các văn bản ghi ý kiến của con chưa thành niên ngày 09/01/2025 thể hiện: con chung Nguyễn Yến V có nguyện vọng được bố là người trực tiếp nuôi dưỡng; con chung Nguyễn Tiến D có nguyện vọng được mẹ là người trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Tại Biên bản xác minh ngày 20/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, thể hiện nội dung: chị T và anh S là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G vào năm 2008 và sinh sống tại địa bàn tổ F, khu C, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh từ đó đến nay. Quá trình chung sống, theo nắm bắt dư luận tại địa phương thì khoảng vài năm trở lại đây thì anh S thường xuyên chửi bới, xúc phạm chị T, những lúc nóng giận không làm chủ được bản thân, anh S còn đánh đập chị T, nguyên nhân là do anh S ghen tuông vô cớ. Mỗi lần vợ chồng xảy ra xung đột như trên, chị T đều có sự giải thích để anh S hiểu việc ghen tuông là không có căn cứ, nhưng anh S vẫn áp đặt suy nghĩ của mình trong mối quan hệ vợ chồng, nên anh S không thay đổi tính tình. Thực trạng như trên được diễn ra trong nhiều năm không cải thiện được dẫn đến anh chị không còn sự yêu thương quý trọng lẫn nhau. Cuộc sống gia đình thường xuyên xảy ra lục đục, chửi bới, cãi vã to tiếng, làm cho cuộc sống chung của anh chị không mấy hạnh phúc. Bên cạnh đó thực trạng mâu thuẫn của anh chị như trên kéo dài, thường xuyên còn làm ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, tâm lý của các con chung chưa thành niên. Về lối sống: chị T là người có lối sống lành mạnh, có việc làm và thu nhập ổn định, chịu khó chăm lo, trách nhiệm, chu toàn với gia đình, không có điều tiếng xấu gì tại địa phương. Mọi việc liên quan đến cuộc sống gia đình như tạo dựng kinh tế, vun vén chăm lo cuộc sống gia đình phần lớn do chị T gánh vác. Bản thân anh S làm công việc gì thì địa phương không nắm được
[5] Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp theo thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ của Toà án gồm: 03 bản xác nhận tiền lương của công ty TNHH một thành viên B - Chi nhánh Q, theo đó chị T có mức lương từ tháng 09 đến tháng 11 lần lượt là: 8.845.871đ, 8.980.640đ, 10.691.233đ.
[6] Kiểm sát Viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm như sau:
+ Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện và được đảm bảo đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự, của nguyên đơn, của bị đơn theo quy định tại các Điều: 70, 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều: 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con; xử cho chị T ly hôn với anh S; giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tiến D, giao cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Yến V cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản và khoản nợ chung các đương sự không đề nghị Toà án giải quyết, nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị Dương Thị T là tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự; tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại địa bàn phố H. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long thụ lý, giải quyết vụ án đảm bảo đúng về thẩm quyền quy định tại khoản điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và do Toà án thu thập theo đúng trình tự pháp luật quy định. Về biên bản xác minh anh S cho rằng nội dung phản ánh về thực trạng mâu thuẫn vợ chồng anh, chị không đúng sự thật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án anh, chị đều khai anh S nhiều lần xúc phạm chị T, dẫn đến cuộc sống chung giữa anh, chị thường xuyên xảy ra xô xát cãi vã nhau. Ngoài ra, anh chị đều xác nhận nội dung tin nhắn có trong các tài liệu chị T giao nộp cho Toà án là do anh S nhắn cho chị T. Theo nội dung các tài liệu này anh S có hành vi chửi bới, xúc phạm chị T. Như vậy, nội dung biên bản xác minh thể hiện anh S chửi bới xúc phạm chị T, thực trạng kéo dài trong nhiều năm phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà. Vì vậy, nội dung biên bản xác minh về thực trạng mâu thuẫn vợ chồng anh, chị phù hợp với các tài liệu chứng cứ, các nội dung còn lại các đương sự không có ý kiến gì đảm bảo tính khách quan và được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án; các tài liệu còn lại các đương sự không không có ý kiến gì, không bổ sung thêm tài liệu gì nào khác, được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung: xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: căn cứ lời khai các đương sự, cùng tài liệu,chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, đủ căn cứ xác định: chị Dương Thị T và anh Nguyễn Thành S kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 2008. Về mâu thuẫn vợ chồng, đủ căn cứ xác định trong quá trình chung sống anh S không chỉ có hành vi chửi bới, xúc phạm chị T mà còn có hành vi làm ảnh hưởng đến uy tín,
danh dự nhân phẩm của chị T. Thực trạng vợ chồng như trên kéo dài và không cải thiện được dẫn đến anh, chị không còn sự yêu thương quý trọng lẫn nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Xét thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T ly hôn với anh S.
Về con chung: anh chị có 02 con chung, chị T đề nghị anh, chị mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung như nêu ở phần trên, còn anh S đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, Hội đồng xét xử thấy:
Căn cứ vào kết quả xác minh, lời khai của các đương sự và tài liệu chứng minh thu nhập của chị T nêu trên đủ căn cứ xác định chị T có lối sống lành mạnh, có công việc và thu nhập ổn định, có trách nhiệm, quan tâm, gắn bó đối với con chung. Mặt khác, quan điểm của chị T về người trực tiếp nuôi con phù hợp với nguyện vọng của các con chung. Do đó, cần giao con chung Nguyễn Tiến D cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Yến V cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung. Đối với yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung của anh S, thấy rằng quá trình giải quyết vụ án anh S và tại phiên toà anh S không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có thu nhập ổn định theo thông báo cung cấp chứng cứ của Toà án. Mặt khác, quan điểm của anh S về người trực tiếp nuôi con trái với nguyện vọng của con chung Nguyễn Tiến D. Căn cứ theo nguyện vọng của con chung, cần giao con chung Nguyễn Yến V cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, các đương sự đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, cần ghi nhận.
- Về tài sản và khoản nợ chung: các đương sự đều không đề nghị Toà án giải quyết, nên không xét.
[3] Về án phí: chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều: 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[2] Tuyên xử:
* Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Dương Thị T về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”:
- Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Dương Thị T ly hôn với anh Nguyễn Thành S
- Về con chung: giao cho chị Dương Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tiến D, sinh ngày 16/5/2009 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Giao cho anh Nguyễn Thành S trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Yến V, sinh ngày 12/7/2012 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
[3] Về án phí: buộc chị Dương Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp, theo biên lai thu số 0001070 ngày 01/8/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
[4] Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hồng |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
