Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/01/2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp

Bà Trần Thanh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:

Ông Trần Huỳnh Đức Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 366/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tô Ngọc M, sinh năm: 2002 (vắng mặt).

HKTT: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Thị Y, khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Phạm Nhựt T, sinh năm: 2000 (vắng mặt).

HKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Thị Y, khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 9 năm 2024 và lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Tô Ngọc M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Nhựt T có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/5/2022. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm không còn tôn trọng nhau làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh Phạm Nhựt T.

Về con chung: Chị và anh T không có con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Phạm Nhựt T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo giao nộp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa làm việc nên không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.Từ khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Chị M và anh T có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/5/2022,Vợ chồng chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm nên thường xuyên cải vã nhau. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh Phạm Nhựt T.

Nay chị M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị M làm đơn này xin Tòa án cho chị M được ly hôn với anh T.

Do chị M và anh T kết hôn vào ngày 04/5/2022, khi kết hôn anh chị có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8,9 Luật HNGĐ năm 2014. Nhận thấy, chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị M.

Về con chung: Chị M và anh T không có con chung.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Tô Ngọc M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phạm Nhựt T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị M, anh T.

[2]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh Phạm Nhựt T có địa chỉ tạm trú tại: Nhà trọ Nguyễn Thị Y, Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

[3]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Ngọc M về việc xin ly hôn với anh Phạm Nhựt T thì thấy rằng: Chị M anh T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/5/2022 nên xác định hôn nhân giữa chị M, anh T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm,không có con chung nên thường xuyên cải vả, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập làm việc, hòa giải nhưng anh T không đến Tòa làm việc chứng tỏ việc anh T bỏ mặc hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn xây dựng gia đình. Qua xác minh tại UBND Thị trấn H mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh T địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, vợ chồng chị M, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó chấp nhận đơn xin ly hôn của chị M, xử cho chị Tô Ngọc M được ly hôn anh Phạm Nhựt T.

Về con chung: Không có con chung.

Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét.

Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.

[4] Về án phí: Chị M là người nộp đơn xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 235, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 8,9 Luật HNGĐ năm 2014.

Áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Ngọc M về việc xin ly hôn với anh Phạm Nhựt T. Xử cho chị Tô Ngọc M được ly hôn với anh Phạm Nhựt T.
  2. Về con chung: Không có con chung.
  3. Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét.
  4. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.
  5. Về án phí: Chị Tô Ngọc M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0018409 ngày 07/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Chị M đã nộp đủ án phí.

Chị Tô Ngọc M, anh Phạm Nhựt T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

* Nơi nhận : T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- CCTHADS H. Nhơn Trạch;

- VKSND H. Nhơn Trạch;

- Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;

- Các đương sự;

- UBND xã;

- Lưu văn phòng.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân Mai

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN

Lê Thị Ánh Sáng – Nguyễn Văn Ba Nguyễn Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Ngọc M về việc xin ly hôn với anh Phạm Nhựt T thì thấy rằng: Chị M anh T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/5/2022 nên xác định hôn nhân giữa chị M, anh T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm,không có con chung nên thường xuyên cải vả, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập làm việc, hòa giải nhưng anh T không đến Tòa làm việc chứng tỏ việc anh T bỏ mặc hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn xây dựng gia đình. Qua xác minh tại UBND Thị trấn H mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh T địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử theo quy định của pháp luật. Xét thấy, vợ chồng chị M, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó chấp nhận đơn xin ly hôn của chị M, xử cho chị Tô Ngọc M được ly hôn anh Phạm Nhựt T. Về con chung: Không có con chung. Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger