|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày 21-3-2025 V/v: Ly hôn giữa anh Huyền và chị Thanh. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Lương Văn Tuấn.
- - Các Hội thẩm nhân dân: ông Tống Xuân Tú và bà Quách Thị Anh Thơ.
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 21-3-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 248/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13-02-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07-3-2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Trần Hữu H, sinh năm 1976.
Địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1972.
Địa chỉ: thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
(anh H - có mặt; chị Thanh vắng M).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Hữu H trình bày:
Anh và chị T kết hôn với nhau là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 14-9-1996. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung dẫn đến va chạm cãi chửi nhau. Vợ chồng đã mâu thuẫn căng thẳng và đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T; về nuôi con chung: anh và chị T có 02 con chung là cháu Trần Thị T1, sinh ngày 06-3-1997 và cháu Trần Hữu Đ, sinh ngày 31-8-2005. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành, tự lập về kinh tế nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng; về chia tài sản và nợ chung: anh và chị T tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 15-10-2024, chị Nguyễn Thị T trình bày: Về hôn nhân: chị và anh H kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H vào ngày 14-9-1996, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến cuối năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay anh H xin ly hôn với chị, chị cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng vì con nên chị muốn đợi con đi bộ đội về thì giải quyết còn hiện tại chị không đồng ý ly hôn; về nuôi con chung: chị và anh H có 02 con chung là cháu Trần Thị T1, sinh ngày 06-3-1997 và cháu Trần Hữu Đ, sinh ngày 31-8-2005. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành, tự lập về kinh tế nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng; về chia tài sản chung: chị và anh H tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh đại diện cơ sở thôn Q, xã H, huyện H cung cấp như sau: vợ chồng anh H và chị T mâu thuẫn hay không cơ sở thôn không nắm bắt được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Về sự chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn anh H đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chị T chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: về hôn nhân: xử cho ly hôn giữa anh H và chị T; về nuôi con chung: anh H và chị T có 02 con chung Trần Thị T1, sinh ngày 06-3-1997 và Trần Hữu Đ, sinh ngày 31-8-2005 đều đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng; về chia tài sản chung: anh H và chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: anh H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: anh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T, chị T hiện đang cư trú tại thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Chị Thanh vắng lần thứ 2 không có lý do, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về hôn nhân: anh H và chị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 14-9-1996, là hôn nhân hợp pháp. Anh H xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống đã mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Anh H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, anh kiên quyết xin ly hôn với chị T . Chị T cũng xác định vợ chồng đã mâu thuẫn từ cuối năm 2023 và đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, chị cũng không còn tình cảm với anh H. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh H và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị T không đồng ý ly hôn với anh H với lý do cho con đi bộ đội về thì mới giải quyết là không có căn cứ, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của anh H, xử cho ly hôn giữa anh H và chị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- [3] Về nuôi con chung: anh H và chị T có 02 con chung là Trần Thị T1, sinh ngày 06-3-1997 và Trần Hữu Đ, sinh ngày 31-8-2005. Hiện tại các con chung đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng.
- [4] Về chia tài sản chung: anh H và chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [5] Về án phí: anh H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- [6] Về quyền kháng cáo: anh H và chị T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Các Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Trần Hữu H và chị Nguyễn Thị T.
- Về nuôi con chung: không đặt ra giải quyết.
- Về chia tài sản chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: anh Trần Hữu H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003925 ngày 15-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (anh H đã nộp đủ tiền án phí).
- Về quyền kháng cáo: anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21-3-2025), chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Văn Tuấn |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án LH giữa anh H và chị T
